CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN 1. GIOI THIEU VE HQ TAM GUI Họ Tầm gửi là họ quan trọng nhất trong thực vật bậc cao sống ký sinh. Gồm khoảng 40 chỉ, 1400 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, một số ít ở vùng ôn đới [4]. Tầm gửi trên cây khế chua Tầm gửi trên cây xoan Hình 1.1 Một số loài cây thuộc họ tầm gửi 1.
DAI CUONG VE CAY TAM GUI TREN CAY KHE CHUA [2, 6,7] 1. Tén goi Tên Tiếng Việt : tầm gửi, tằm gửi, chùm gửi Tên Tiếng Anh: Ligaria cuneifolia Tên khoa học: Loranthaceae Phân loại khoa học : (Theo hệ thống APG III- 2009) Giới Thực vật ( Plantae) Ngành Thuc vat cd Hoa (Angiospermae) Lop Hai lá mầm (Eudicots) Nhánh đơn ngành Nhánh Thực vật hai lá mâm phân lõi (Core eudicots) Bộ Đàn hương (Santalales) Họ Tầm gửi (Loranthacae) Phân họ Tâm gửi (Loranthacae) Tông Tâm gửi (Lorantheae) Phân tông Loranthinae Chi Macrosiren Chi Loranthus Theo nhóm APG thì bộ Đàn hương ( santalales) chứa khoảng 155-172 chỉ và khoảng 2. Việt Nam có 5 chi với khoảng 35 loài , mọc hoang, chỉ có một loài được công ty TNHH Bảo Long trồng ghép thử nghiệm thành công là Tầm gửi Dâu. Nahe! fant Hình 1.
Hình ảnh cây tẫm gửi 1. Nguồn gốc và phân bố “ Nguồn gốc Các loài cây thuộc họ này đã được tìm thấy trong các hóa thạch có niên đại khoảng 70-80 triệu năm trước, trong thời kỳ cuối của kỷ Phan trang (Cretaceous). Cay tầm gửi có nguồn gốc từ Châu Âu hoặc Bắc Mỹ. % Phân bố Phân bố ở Án Độ, Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonexia.
Ở Việt Nam, cây này có ở các tỉnh Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Sông Bé, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh. oe N | TA) XY v.v N \ TY \ Gey \ ` * Hình 1. Bảng đồ phân bố tắm gửi trên thể giới 1. Mô tả thực vật Loài cây này là loài thực vật có hoa, bán ký sinh trên các loài khác, chúng có lá xanh đề tự quang hợp và bộ rễ sống bám chặt vào vỏ thân cây chủ đề có định sinh trưởng.
Cây tầm gửi là cây gỗ, có bụi hoặc cây bụi nhỏ, một vài trường hợp dây leo. Thân: Thân gỗ, giòn, cành có thê chia đốt, không có lông đến lông tơ Lá: Lá đơn, nguyên, mọc đối hoặc chụm ba (ít khi giảm thành vảy hoặc không có lá), phiến lá hình mác đến oval, gân lá hình lông chim hoặc song song. Hoa: Hoa lưỡng tính hoặc đơn tính. Cụm hoa dạng xim, bông, chùm, tán mọc ở kẽ lá bắc (hai lá bắc hợp sinh trông giống như một đài phụ bên ngoài đài hoa).
Bao hoa có đài, tràng phân biệt hoặc tiêu giảm chỉ còn lại một loại (thường tràng tiêu giảm chỉ còn là vành nhỏ hoặc không còn). Đài một vòng, lá đài hợp , hình thuỳ hay hình chén, mép nguyên khía răng. Tràng (3-)5- 6(-9), một vòng thường cánh hợp, hình ống màu vàng, da cam, hoặc đỏ. Bộ nhị một vòng với bao hoa, xếp đối diện với chúng.
Chỉ nhị mảnh hoặc không có. Bao phấn đính gốc hay đính lưng, nở bằng kẽ nứt đọc hoặc bằng lỗ. Bộ nhuy 3 -4 lá noãn dính nhau, bầu dưới, 1 ô, noãn không cuống, không áo, không khác rõ rệt với thực giá noãn, không có phôi tâm rõ ràng. Túi phôi phát triển.
Vòi nhuy ngắn hoặc không có, quả mọng hay quả nạc, vỏ thường có chất dính giúp cho việc phát tán trên thân cây chủ. 1 - 3 hạt, không có vỏ, nhiều nội nhũ, có 1 — 3 phôi khá phân hoá. Quả và hạt: Quả mọng hay quả nạc, vỏ thường có chất dính giúp cho việc phát tán trên thân cây chủ. 1 — 3 hạt, không có vỏ, nhiều nội nhũ, có 1 — 3 phôi khá phân hoá.
Hầu hết hạt của các loại tầm gửi đều được phủ bởi 1 lớp chat long sén sét trên bề mặt, điều này cho phép chúng bám được trên cây chủ. Rễ: Không rễ hoặc có rễ (đúng hơn là giác mút), nửa ký sinh ở các phần trên mặt đất của cây chủ, ít khi ký sinh trên rễ của cây chủ. Điều kiện sinh trưởng và phát triển Ở Việt Nam, tầm gửi xuất hiện khắp nơi, đặt biệt là vùng nông thôn. Vì là cây mọc và sống ký sinh trên cây khế, mọc quanh năm, mùa đông cây cũng không bị rụng lá do luôn hút chất dinh dưỡng và nước từ những cây gỗ chúng bám vào.
Cây được người dân tìm và thu hái quanh năm, nhiều nhất là vào mùa hè, khi cây phát triển mạnh nhất. CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH CỦA LÁ TÂM GỬI TRONG DÂN GIAN Hầu hết các bộ phận của tầm gửi đều có công dụng chữa bệnh. Trong y học cổ truyền người ta sử dụng các thành phần của lá tầm gửi để chữa một số bệnh. %% Một số đơn thuốc dùng lá tầm gửi để chữa bệnh Chữa phong thấp: rửa sạch, phơi khô, chặt thành đoạn, sao vàng, sắc uống; hoặc phối hợp với các vi thuốc bổ can thận khác như tục đoạn, câu tích, đau Xương, tang chi.
Bài “Độc hoạt ký sinh thang”: tang ký sinh 18g; độc hoạt, tần cửu, phòng phong, đương quy, bạch thược, đỗ trọng, ngưu tất, mỗi vị 9g; tế tân 3g, sinh địa 15g; đảng sâm, phục linh, mỗi vị 12g; nhục quế 1,5g, cam thảo 6g. Bài này công năng chính là trừ phong thấp, bổ khí huyết, ích can thận. Dùng trị chứng thấp tý, đau nhức thần kinh, cơ nhục, thần kinh ngoại biên, thần kinh tọa. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần trước bữa ăn.
Cũng có thé bào chế dạng thuốc hoàn hoặc ngâm rượu. Bài “Thiên ma câu đằng dm”: tang ky sinh, thảo quyết minh (sao vàng), mỗi vị 32g, thiên ma, câu đẳng, chi tử, hoàng cầm, đỗ trọng, mỗi vị 12g, dây hà thủ ô đỏ, bạch linh, mỗi vị 20g, ngưu tat, ich mau, mdi vi 16g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, trước bữa ăn. Dùng trị chứng tăng huyết áp, tim hồi hộp, khó ngủ.
Những thang thuốc trên dùng tốt nhất cho người cao tuổi trong lúc giao mùa từ nóng sang lạnh, từ mùa thu sang đông.Ngoài ra, tang ký sinh còn được phối hợp với chư ma căn (củ cây gaI), tô ngạnh (cành tía tô), ngải diệp; trị ít sữa của phụ nữ sau sinh. %% Một số đơn thuốc dùng lá tầm gửi trên cây khác: Tầm gửi cây dẻ trị thấp khớp, viêm họng, các bệnh dị ứng, bệnh ngoài da. Tầm gửi cây xoan chữa bệnh đường ruột, kiết ly, táo bón. Tầm gửi cây chanh dùng trị các chứng ho khan, ho gió, ho có đờm đặc.
Khi dùng thường cũng sao chế như tang ký sinh, có thể phối hợp với các vị trị ho khác như trần bì, tang bạch bì, xạ can, mạch môn. dưới dạng thuốc sac, siro hay vién ngam. Tầm gửi cây na, cây mít còn dùng trị bệnh sốt rét hoặc chứng “hàn nhiệt vãng lai”, tức bệnh có lúc sốt, lúc rét. Có thể phối hợp với thanh hao, sài hồ, hoàng cầm, thảo quả, binh lang.
Tầm gửi trên cây cúc tần cho hạt là vị thuốc thỏ ty tử tác dụng bổ thận tráng dương, chữa di tinh, liệt đương, tiểu dầm.: hạt tơ hồng (thỏ ty tử) 8g, thục địa 16g, lục giác giao, đỗ trọng, mỗi vị 12g, kỷ tử, nhục qué, mỗi vị 10g, sơn thù du, phụ tử chế, đương quy, mỗi vị 8g. Ngày một thang, dạng thuốc sắc. Tầm gửi cây gạo có tác dụng tốt để điều trị viêm cầu thận, phù thận, sỏi thận, chức năng gan yếu, gan nóng; đặc biệt làm tăng khả năng thải độc của gan. Lưu ý: tránh dùng những loài tầm gửi trên các cây chủ có độc tính như lim, trúc đào, thông thiên.
NGHIEN CUU VE THANH PHAN HOA HOC CUA HO TAM GUI 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Trong dân gian, lá của tầm gửi trên cây khế được dùng phối hợp với lá ché nâu nước uống trị ho. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá giã nát đắp trị chỗ đau và loét. Ở Malaysia, Tầm gửi được dùng làm thuốc cho phụ nữ mau chóng hồi phục sau sinh, chữa vết thương và lở loét.
Ở Indonesia, người ta còn dùng Tầm gửi để chữa ung thư. Theo bài viết “Các cây thuốc được dùng trong trung tâm nghiên cứu phát triển hoàng gia Kungkrabaen, tỉnh Chanthaburi” của Wongsatit Chuakul và cộng sự, toàn bộ cây TƠNN ký sinh trên cây Gòn (Ceiba pentandra (L.) duge gia nat với nước vo gạo dùng để trị tiêu chảy, nước sắc từ cây TGNN ký sinh trên cây xoài (Magifera indica L.) dùng để trị tiêu đường. Nam 1936, nha bác học Rauch đã phát hiện Dendrophthoe pentandra (L.) Miq có bộ nhiễm sắc thê (2n = 16). Ang và Jean W.
Wong đã tiến hành nuôi cấy mô với vật liệu là phôi hạt và mô callus trên hai loài tầm gửi là Dendrophthoe pentandra (L.) Miq và Macrosolen cochinchinensis (Lour.) Blum trong môi trường Murashige và Skoog (môi trường MS) có bổ sung nước dừa (15 — 20%) ở điều kiện thông thoáng. Kết quả cho thấy, trong môi trường cơ bản MS có chứa hormone thì thời gian cần thiết cho sự nảy mầm của Dendrophthoe pentandra ngắn hơn nhiều so với Macrosolen cochinchinensis. Sau khi nảy mầm, tầm gửi cần được bổ sung kích thích tố sinh trưởng. Hai ông nhận thấy rằng ở môi trường 6-benzylaminopurine 5 (BA) 20uM, thi chi cd Dendrophthoe pentandra phat trién binh thường, còn ở môi trường có nước dừa (15 - 20%) thì cả hai loài đều phát triển toàn điện trong bình nuôi cấy.
Năm 2006, nhóm tác giả người Indonesia gồm Nina Artani, Yelli Ma°arifa và Muhammad Hanafi đã tách được hợp chất chống oxy hóa là quercitrin (C21H20011) va querceti (C15H1007) từ cao ethanol cua cay TGNN Dendrophthoe pentandra (L.) Mig ký sinh trên cay Khé (Averrhoa carambola). Tháng 3 năm 2011, nhóm tác giả người Indonesia gồm Wahyu Widowati, Tjandrawati Mozet, Chandra Risdian, Hana Ratnawati, Susy Tjahani, va Ferry Sandra da so sánh tính chống oxy hóa và đặc tính ức chế sinh trưởng dòng tế bảo ung thư T47D của cao ethanol tr Trầu không Piper betle L., Dừa cạn Catharanthus roseus (L. Don, TGNN Dendrophthoe pentandra L., và Nghệ Curcuma mangga Val. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng lá P.
roseus, lá và cành nhỏ của D. pentandra ký sinh trên cây xoài, thân rễ (củ) của C. mangga làm vật liệu. Kết quả cho thấy P.
betle là nguồn dược liệu thiên nhiên đầy hứa hẹn về khả năng chống oxy hóa và ức chế tăng trưởng tế bào ung thư, cao ethanol của C. roseus có thể ức chế tăng trưởng tế bào ung thư nhưng không có hoạt tính chống oxy hóa, cao 6 ethanol của C. mangga không chứa cả hai hoạt tính trên. Xét riêng cao ethanol cua TGNN D.
pentandra, thay rang D. pentandra có hoạt tính kháng tế bào ung thư rất thấp, thậm chí không có.