Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học cao chiết ethanol của lá tầm gửi trên cây khế chua

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học cao chiết ethanol của lá tầm gửi trên cây khế, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Chuyên ngành

Sư phạm Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học

2018

78
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Đối tượng và mục đích nghiên cứu

0.2. Nội dung nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. GIỚI THIỆU VỀ HỌ TẦM GỬI

1.1.1. Họ Tầm gửi

1.1.2. Đại cương về cây tầm gửi trên cây khế chua

1.1.2.1. Tên gọi
1.1.2.2. Nguồn gốc và phân bố
1.1.2.3. Mô tả thực vật
1.1.2.4. Điều kiện sinh trưởng và phát triển

1.1.3. Công dụng chữa bệnh của lá tầm gửi trong dân gian

1.1.4. Nghiên cứu về thành phần hóa học của họ tầm gửi

1.1.4.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới
1.1.4.2. Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu, dụng cụ, hóa chất và sơ đồ nghiên cứu

2.1.1. Thu mẫu và xử lý mẫu nguyên liệu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về lá tầm gửi và cây khế chua

Lá tầm gửi là một loại cây bán ký sinh, thường sống trên các cây chủ như cây khế chua. Nghiên cứu này tập trung vào việc chiết tách thành phần hóa học từ lá tầm gửi trên cây khế chua, nhằm xác định các hợp chất hữu cơ có giá trị dược liệu. Cây khế chua được chọn làm cây chủ do sự phổ biến và khả năng hỗ trợ sinh trưởng của tầm gửi. Nghiên cứu này không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn có tiềm năng ứng dụng trong y học cổ truyền và dược phẩm.

1.1. Đặc điểm sinh học của lá tầm gửi

Lá tầm gửi thuộc họ Loranthaceae, có khả năng quang hợp và hấp thụ dinh dưỡng từ cây chủ. Nó thường được tìm thấy trên các cây gỗ lớn, đặc biệt là cây khế chua. Lá tầm gửi có cấu trúc đơn giản, thường mọc thành cụm và có màu xanh đậm. Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng lá tầm gửi chứa nhiều hợp chất hữu cơ có tiềm năng dược liệu, bao gồm flavonoid, tanin và đường khử.

1.2. Đặc điểm của cây khế chua

Cây khế chua (Averrhoa carambola) là một loại cây ăn quả phổ biến ở Việt Nam. Nó không chỉ có giá trị kinh tế mà còn được sử dụng trong y học cổ truyền. Cây khế chua cung cấp môi trường sống lý tưởng cho lá tầm gửi, giúp tăng cường khả năng sinh trưởng và tích lũy các hợp chất hóa học có lợi. Sự kết hợp giữa cây khế chua và lá tầm gửi tạo nên một hệ sinh thái độc đáo, có tiềm năng nghiên cứu sâu rộng.

II. Phương pháp chiết tách và xác định thành phần hóa học

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chiết tách thành phần hóa học từ lá tầm gửi trên cây khế chua bằng ethanol. Quá trình chiết tách bao gồm các bước ngâm chiết, cô đặc và phân lập các hợp chất hữu cơ. Xác định thành phần hóa học được thực hiện thông qua kỹ thuật sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC-MS), giúp phân tích chính xác các hợp chất có trong dịch chiết.

2.1. Quy trình chiết tách ethanol

Quy trình chiết tách ethanol bắt đầu bằng việc ngâm lá tầm gửi trong ethanol 96% trong thời gian 7 ngày. Sau đó, dịch chiết được lọc và cô đặc bằng máy cô quay chân không. Quá trình này giúp thu được cao chiết ethanol, chứa các hợp chất hữu cơ quan trọng. Phương pháp này được đánh giá là hiệu quả trong việc chiết xuất các hợp chất từ thực vật.

2.2. Phân tích thành phần hóa học bằng GC MS

Phân tích hóa học được thực hiện bằng kỹ thuật sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC-MS). Phương pháp này cho phép xác định chính xác các hợp chất hữu cơ trong dịch chiết, bao gồm flavonoid, tanin và các đường khử. Kết quả phân tích cung cấp thông tin chi tiết về thành phần hóa học của lá tầm gửi, mở ra tiềm năng ứng dụng trong dược phẩm và y học.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy lá tầm gửi trên cây khế chua chứa nhiều hợp chất hữu cơ có giá trị dược liệu, bao gồm flavonoid, tanin và các đường khử. Những hợp chất này có tiềm năng ứng dụng trong việc điều trị các bệnh viêm nhiễm, hỗ trợ tiêu hóa và tăng cường sức đề kháng. Nghiên cứu này không chỉ góp phần vào việc hiểu biết sâu hơn về thành phần hóa học của lá tầm gửi mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực dược liệu tự nhiên.

3.1. Thành phần hóa học chính

Kết quả phân tích bằng GC-MS cho thấy thành phần hóa học chính của lá tầm gửi bao gồm flavonoid (7%), tanin (5%) và các đường khử (3%). Các hợp chất này có tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm và hỗ trợ tiêu hóa. Đặc biệt, flavonoid được xem là hợp chất quan trọng nhất, có tiềm năng ứng dụng trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm.

3.2. Ứng dụng trong y học và dược phẩm

Lá tầm gửi trên cây khế chua có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong y học và dược phẩm. Các hợp chất flavonoid và tanin có thể được sử dụng để phát triển các sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh viêm khớp, tiểu đường và các bệnh liên quan đến tiêu hóa. Nghiên cứu này cũng mở ra hướng phát triển các sản phẩm dược liệu tự nhiên, an toàn và hiệu quả.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN 1. GIOI THIEU VE HQ TAM GUI Họ Tầm gửi là họ quan trọng nhất trong thực vật bậc cao sống ký sinh. Gồm khoảng 40 chỉ, 1400 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, một số ít ở vùng ôn đới [4]. Tầm gửi trên cây khế chua Tầm gửi trên cây xoan Hình 1.1 Một số loài cây thuộc họ tầm gửi 1.

DAI CUONG VE CAY TAM GUI TREN CAY KHE CHUA [2, 6,7] 1. Tén goi Tên Tiếng Việt : tầm gửi, tằm gửi, chùm gửi Tên Tiếng Anh: Ligaria cuneifolia Tên khoa học: Loranthaceae Phân loại khoa học : (Theo hệ thống APG III- 2009) Giới Thực vật ( Plantae) Ngành Thuc vat cd Hoa (Angiospermae) Lop Hai lá mầm (Eudicots) Nhánh đơn ngành Nhánh Thực vật hai lá mâm phân lõi (Core eudicots) Bộ Đàn hương (Santalales) Họ Tầm gửi (Loranthacae) Phân họ Tâm gửi (Loranthacae) Tông Tâm gửi (Lorantheae) Phân tông Loranthinae Chi Macrosiren Chi Loranthus Theo nhóm APG thì bộ Đàn hương ( santalales) chứa khoảng 155-172 chỉ và khoảng 2. Việt Nam có 5 chi với khoảng 35 loài , mọc hoang, chỉ có một loài được công ty TNHH Bảo Long trồng ghép thử nghiệm thành công là Tầm gửi Dâu. Nahe! fant Hình 1.

Hình ảnh cây tẫm gửi 1. Nguồn gốc và phân bố “ Nguồn gốc Các loài cây thuộc họ này đã được tìm thấy trong các hóa thạch có niên đại khoảng 70-80 triệu năm trước, trong thời kỳ cuối của kỷ Phan trang (Cretaceous). Cay tầm gửi có nguồn gốc từ Châu Âu hoặc Bắc Mỹ. % Phân bố Phân bố ở Án Độ, Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonexia.

Ở Việt Nam, cây này có ở các tỉnh Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Sông Bé, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh. oe N | TA) XY v.v N \ TY \ Gey \ ` * Hình 1. Bảng đồ phân bố tắm gửi trên thể giới 1. Mô tả thực vật Loài cây này là loài thực vật có hoa, bán ký sinh trên các loài khác, chúng có lá xanh đề tự quang hợp và bộ rễ sống bám chặt vào vỏ thân cây chủ đề có định sinh trưởng.

Cây tầm gửi là cây gỗ, có bụi hoặc cây bụi nhỏ, một vài trường hợp dây leo. Thân: Thân gỗ, giòn, cành có thê chia đốt, không có lông đến lông tơ Lá: Lá đơn, nguyên, mọc đối hoặc chụm ba (ít khi giảm thành vảy hoặc không có lá), phiến lá hình mác đến oval, gân lá hình lông chim hoặc song song. Hoa: Hoa lưỡng tính hoặc đơn tính. Cụm hoa dạng xim, bông, chùm, tán mọc ở kẽ lá bắc (hai lá bắc hợp sinh trông giống như một đài phụ bên ngoài đài hoa).

Bao hoa có đài, tràng phân biệt hoặc tiêu giảm chỉ còn lại một loại (thường tràng tiêu giảm chỉ còn là vành nhỏ hoặc không còn). Đài một vòng, lá đài hợp , hình thuỳ hay hình chén, mép nguyên khía răng. Tràng (3-)5- 6(-9), một vòng thường cánh hợp, hình ống màu vàng, da cam, hoặc đỏ. Bộ nhị một vòng với bao hoa, xếp đối diện với chúng.

Chỉ nhị mảnh hoặc không có. Bao phấn đính gốc hay đính lưng, nở bằng kẽ nứt đọc hoặc bằng lỗ. Bộ nhuy 3 -4 lá noãn dính nhau, bầu dưới, 1 ô, noãn không cuống, không áo, không khác rõ rệt với thực giá noãn, không có phôi tâm rõ ràng. Túi phôi phát triển.

Vòi nhuy ngắn hoặc không có, quả mọng hay quả nạc, vỏ thường có chất dính giúp cho việc phát tán trên thân cây chủ. 1 - 3 hạt, không có vỏ, nhiều nội nhũ, có 1 — 3 phôi khá phân hoá. Quả và hạt: Quả mọng hay quả nạc, vỏ thường có chất dính giúp cho việc phát tán trên thân cây chủ. 1 — 3 hạt, không có vỏ, nhiều nội nhũ, có 1 — 3 phôi khá phân hoá.

Hầu hết hạt của các loại tầm gửi đều được phủ bởi 1 lớp chat long sén sét trên bề mặt, điều này cho phép chúng bám được trên cây chủ. Rễ: Không rễ hoặc có rễ (đúng hơn là giác mút), nửa ký sinh ở các phần trên mặt đất của cây chủ, ít khi ký sinh trên rễ của cây chủ. Điều kiện sinh trưởng và phát triển Ở Việt Nam, tầm gửi xuất hiện khắp nơi, đặt biệt là vùng nông thôn. Vì là cây mọc và sống ký sinh trên cây khế, mọc quanh năm, mùa đông cây cũng không bị rụng lá do luôn hút chất dinh dưỡng và nước từ những cây gỗ chúng bám vào.

Cây được người dân tìm và thu hái quanh năm, nhiều nhất là vào mùa hè, khi cây phát triển mạnh nhất. CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH CỦA LÁ TÂM GỬI TRONG DÂN GIAN Hầu hết các bộ phận của tầm gửi đều có công dụng chữa bệnh. Trong y học cổ truyền người ta sử dụng các thành phần của lá tầm gửi để chữa một số bệnh. %% Một số đơn thuốc dùng lá tầm gửi để chữa bệnh Chữa phong thấp: rửa sạch, phơi khô, chặt thành đoạn, sao vàng, sắc uống; hoặc phối hợp với các vi thuốc bổ can thận khác như tục đoạn, câu tích, đau Xương, tang chi.

Bài “Độc hoạt ký sinh thang”: tang ký sinh 18g; độc hoạt, tần cửu, phòng phong, đương quy, bạch thược, đỗ trọng, ngưu tất, mỗi vị 9g; tế tân 3g, sinh địa 15g; đảng sâm, phục linh, mỗi vị 12g; nhục quế 1,5g, cam thảo 6g. Bài này công năng chính là trừ phong thấp, bổ khí huyết, ích can thận. Dùng trị chứng thấp tý, đau nhức thần kinh, cơ nhục, thần kinh ngoại biên, thần kinh tọa. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần trước bữa ăn.

Cũng có thé bào chế dạng thuốc hoàn hoặc ngâm rượu. Bài “Thiên ma câu đằng dm”: tang ky sinh, thảo quyết minh (sao vàng), mỗi vị 32g, thiên ma, câu đẳng, chi tử, hoàng cầm, đỗ trọng, mỗi vị 12g, dây hà thủ ô đỏ, bạch linh, mỗi vị 20g, ngưu tat, ich mau, mdi vi 16g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, trước bữa ăn. Dùng trị chứng tăng huyết áp, tim hồi hộp, khó ngủ.

Những thang thuốc trên dùng tốt nhất cho người cao tuổi trong lúc giao mùa từ nóng sang lạnh, từ mùa thu sang đông.Ngoài ra, tang ký sinh còn được phối hợp với chư ma căn (củ cây gaI), tô ngạnh (cành tía tô), ngải diệp; trị ít sữa của phụ nữ sau sinh. %% Một số đơn thuốc dùng lá tầm gửi trên cây khác: Tầm gửi cây dẻ trị thấp khớp, viêm họng, các bệnh dị ứng, bệnh ngoài da. Tầm gửi cây xoan chữa bệnh đường ruột, kiết ly, táo bón. Tầm gửi cây chanh dùng trị các chứng ho khan, ho gió, ho có đờm đặc.

Khi dùng thường cũng sao chế như tang ký sinh, có thể phối hợp với các vị trị ho khác như trần bì, tang bạch bì, xạ can, mạch môn. dưới dạng thuốc sac, siro hay vién ngam. Tầm gửi cây na, cây mít còn dùng trị bệnh sốt rét hoặc chứng “hàn nhiệt vãng lai”, tức bệnh có lúc sốt, lúc rét. Có thể phối hợp với thanh hao, sài hồ, hoàng cầm, thảo quả, binh lang.

Tầm gửi trên cây cúc tần cho hạt là vị thuốc thỏ ty tử tác dụng bổ thận tráng dương, chữa di tinh, liệt đương, tiểu dầm.: hạt tơ hồng (thỏ ty tử) 8g, thục địa 16g, lục giác giao, đỗ trọng, mỗi vị 12g, kỷ tử, nhục qué, mỗi vị 10g, sơn thù du, phụ tử chế, đương quy, mỗi vị 8g. Ngày một thang, dạng thuốc sắc. Tầm gửi cây gạo có tác dụng tốt để điều trị viêm cầu thận, phù thận, sỏi thận, chức năng gan yếu, gan nóng; đặc biệt làm tăng khả năng thải độc của gan. Lưu ý: tránh dùng những loài tầm gửi trên các cây chủ có độc tính như lim, trúc đào, thông thiên.

NGHIEN CUU VE THANH PHAN HOA HOC CUA HO TAM GUI 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Trong dân gian, lá của tầm gửi trên cây khế được dùng phối hợp với lá ché nâu nước uống trị ho. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá giã nát đắp trị chỗ đau và loét. Ở Malaysia, Tầm gửi được dùng làm thuốc cho phụ nữ mau chóng hồi phục sau sinh, chữa vết thương và lở loét.

Ở Indonesia, người ta còn dùng Tầm gửi để chữa ung thư. Theo bài viết “Các cây thuốc được dùng trong trung tâm nghiên cứu phát triển hoàng gia Kungkrabaen, tỉnh Chanthaburi” của Wongsatit Chuakul và cộng sự, toàn bộ cây TƠNN ký sinh trên cây Gòn (Ceiba pentandra (L.) duge gia nat với nước vo gạo dùng để trị tiêu chảy, nước sắc từ cây TGNN ký sinh trên cây xoài (Magifera indica L.) dùng để trị tiêu đường. Nam 1936, nha bác học Rauch đã phát hiện Dendrophthoe pentandra (L.) Miq có bộ nhiễm sắc thê (2n = 16). Ang và Jean W.

Wong đã tiến hành nuôi cấy mô với vật liệu là phôi hạt và mô callus trên hai loài tầm gửi là Dendrophthoe pentandra (L.) Miq và Macrosolen cochinchinensis (Lour.) Blum trong môi trường Murashige và Skoog (môi trường MS) có bổ sung nước dừa (15 — 20%) ở điều kiện thông thoáng. Kết quả cho thấy, trong môi trường cơ bản MS có chứa hormone thì thời gian cần thiết cho sự nảy mầm của Dendrophthoe pentandra ngắn hơn nhiều so với Macrosolen cochinchinensis. Sau khi nảy mầm, tầm gửi cần được bổ sung kích thích tố sinh trưởng. Hai ông nhận thấy rằng ở môi trường 6-benzylaminopurine 5 (BA) 20uM, thi chi cd Dendrophthoe pentandra phat trién binh thường, còn ở môi trường có nước dừa (15 - 20%) thì cả hai loài đều phát triển toàn điện trong bình nuôi cấy.

Năm 2006, nhóm tác giả người Indonesia gồm Nina Artani, Yelli Ma°arifa và Muhammad Hanafi đã tách được hợp chất chống oxy hóa là quercitrin (C21H20011) va querceti (C15H1007) từ cao ethanol cua cay TGNN Dendrophthoe pentandra (L.) Mig ký sinh trên cay Khé (Averrhoa carambola). Tháng 3 năm 2011, nhóm tác giả người Indonesia gồm Wahyu Widowati, Tjandrawati Mozet, Chandra Risdian, Hana Ratnawati, Susy Tjahani, va Ferry Sandra da so sánh tính chống oxy hóa và đặc tính ức chế sinh trưởng dòng tế bảo ung thư T47D của cao ethanol tr Trầu không Piper betle L., Dừa cạn Catharanthus roseus (L. Don, TGNN Dendrophthoe pentandra L., và Nghệ Curcuma mangga Val. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng lá P.

roseus, lá và cành nhỏ của D. pentandra ký sinh trên cây xoài, thân rễ (củ) của C. mangga làm vật liệu. Kết quả cho thấy P.

betle là nguồn dược liệu thiên nhiên đầy hứa hẹn về khả năng chống oxy hóa và ức chế tăng trưởng tế bào ung thư, cao ethanol của C. roseus có thể ức chế tăng trưởng tế bào ung thư nhưng không có hoạt tính chống oxy hóa, cao 6 ethanol của C. mangga không chứa cả hai hoạt tính trên. Xét riêng cao ethanol cua TGNN D.

pentandra, thay rang D. pentandra có hoạt tính kháng tế bào ung thư rất thấp, thậm chí không có.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học từ lá tầm gửi trên cây khế chua" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình chiết tách và phân tích thành phần hóa học của lá tầm gửi, một loại thực vật có tiềm năng trong y học và công nghiệp. Nghiên cứu này không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về các hợp chất có trong lá tầm gửi mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên, góp phần vào việc bảo vệ sức khỏe con người.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến chất lượng nước và phân tích hóa học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, nơi cung cấp thông tin về chất lượng nước trong khu vực. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cũng sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề ô nhiễm nước. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người sẽ cung cấp thêm thông tin về ô nhiễm môi trường và tác động của nó đến sức khỏe. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về các vấn đề liên quan đến hóa học và môi trường.