Tổng quan luận án

Công trình "Nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản và thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng trong điều kiện nuôi nhốt tại khu vực phía Bắc Việt Nam" được nghiên cứu sinh Phùng Quang Trường thực hiện và bảo vệ năm 2017 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Như Quán, thuộc chuyên ngành Sinh sản và Bệnh sinh sản gia súc (Mã số: 62 64 01 06). Luận án được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn của ngành chăn nuôi đặc sản trong bối cảnh nguồn cung lợn rừng từ săn bắt tự nhiên đã cạn kiệt và bị cấm theo quy định bảo tồn động vật hoang dã của Nhà nước. Thịt lợn rừng có phẩm chất thơm ngon, ít mỡ, bì giòn và hàm lượng cholesterol thấp, trở thành thực phẩm đặc sản có giá trị thương phẩm cao. Phong trào nuôi lợn rừng tại Việt Nam nhen nhóm từ năm 2001 tại Bình Phước khi lợn rừng được thuần dưỡng và cho lai với giống lợn đen địa phương. Đến năm 2005, Công ty TNHH Khánh Giang nhập khẩu 100 con lợn rừng từ Thái Lan về nuôi thử nghiệm, mở đầu cho việc nhập hàng ngàn cá thể giống lợn rừng Thái Lan về nuôi ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tự phát hoặc các tài liệu hướng dẫn sơ sài từ Thái Lan, dẫn tới nhiều tồn tại như sân chơi hẹp, dịch bệnh bộc phát và năng suất sinh sản chưa cao. Đặc biệt, việc khai thác tinh dịch, kiểm tra chất lượng tinh và ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (TTNT) cho lợn rừng hầu như chưa được nghiên cứu một cách bài bản tại Việt Nam.

Luận án xác lập 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định, đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan qua các chỉ tiêu: Tuổi thành thục về tính, tuổi phối giống lần đầu, thời điểm phối giống thích hợp, thời gian mang thai, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục lại sau khi cai sữa, số lượng con sinh ra/lứa, khối lượng các lứa tuổi, tỷ lệ nuôi sống đến 24h, tỷ lệ nuôi sống đến 60 ngày, khoảng cách 2 lứa đẻ, chu kỳ động dục.
  2. Khai thác đánh giá chất lượng tinh lợn Rừng đực Thái Lan và thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn bản địa (Móng Cái) trong điều kiện nuôi nhốt: Phương pháp huấn luyện và khai thác tinh lợn, chất lượng tinh dịch, thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn bản địa (Móng Cái).

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm đàn lợn Rừng sinh ra từ đàn lợn nhập nội từ Thái Lan nuôi tại các trang trại phía Bắc. Trong nội dung thụ tinh nhân tạo, đối tượng gồm 4 lợn đực Rừng (ký hiệu R1, R2, R3, R4) được huấn luyện khai thác tinh thành công từ đàn 7 con ban đầu; lợn Rừng cái và lợn Móng Cái lứa đẻ thứ 2 được sử dụng để dẫn tinh nhân tạo. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm các trang trại tại tỉnh Vĩnh Phúc (Trang trại ông Khổng Văn Sinh, thôn Đền Thõng, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, quy mô 300 con), tỉnh Hòa Bình (Trang trại Thuận Linh của gia đình anh Hoàng Văn Thuận, xóm Quê Sụ, xã Cao Răm, huyện Lương Sơn, quy mô 320 con) và thành phố Hà Nội (các trang trại Hụ Linh, Chiến Hùng tại xã Vân Hòa; Mỹ Hạnh, Liên Mận tại xã Tản Lĩnh; Hùng Sử tại xã Cẩm Lĩnh, thuộc huyện Ba Vì, tổng quy mô 460 con). Các phân tích chuyên sâu được tiến hành tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm thuộc Bộ môn Sinh lý, Sinh sản và Tập tính vật nuôi (Viện Chăn nuôi) và Bộ môn Ngoại - Sản thuộc Khoa Thú y (Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Thời gian thực hiện nội dung 1 từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 3 năm 2016; nội dung 2 từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 2 năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm luận nguồn gốc phân loại của loài lợn rừng (Sus scrofa), thuộc chi Sus, họ Suidae, bộ Artiodactyla, lớp Động vật có vú (Mammalia). Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2005) xếp lợn rừng vào nhóm loài ít quan tâm và công nhận 16 phân loài, phân chia thành 4 nhóm chính: nhóm Tây Âu (scrofa group), nhóm Ấn Độ (Cristatus), nhóm miền Đông (Leucomystax) và nhóm Sundaic (Vittatus). Về mặt di truyền tế bào, lợn rừng Tây Ban Nha và Pháp có 36 cặp nhiễm sắc thể, trong khi các loài lợn rừng châu Âu khác và lợn nhà có 38 cặp nhiễm sắc thể; khi giao phối tạo ra con lai có 37 cặp nhiễm sắc thể nhưng vẫn có khả năng sinh sản bình thường.

Về tình hình chăn nuôi trên thế giới, Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2002, 2005) ghi nhận Pháp có tới 800 trang trại nuôi lợn rừng; tại Thái Lan, phong trào phát triển mạnh từ năm 2000 (chỉ có 2-3 trại) lên hàng trăm trại vào năm 2002 với quy mô từ vài con đến 1.000 con trên diện tích 10 ha, số nái dao động từ 10 đến 200 con/trại. Tài liệu của Farm Diversification (2010) cho biết tại Anh có khoảng 100 trang trại (riêng Scotland có 30 trại với 2.000 nái sinh sản), áp dụng phương thức chăn nuôi hữu cơ dưới sự kiểm soát của Đạo luật Động vật nguy hiểm 1976 (Dangerous Wild Animals Act 1976). Về đặc điểm hình thái và tập tính, Kvisna Keo Sua Um và Phira Krai Xeng Xri (2005) mô tả lợn rừng Thái Lan có mõm dài nhọn, tai nhỏ dựng cứng, má có nếp lông trắng vệt ngang sống mũi, răng nanh phát triển, bộ răng 44 chiếc có công thức 3/4, 1/2, 1/4, 3/4 x 2, vai có u chai dày 3-5 cm. Tăng Xuân Lưu (2009, 2010) ghi nhận tập tính hoạt động bầy đàn theo chế độ mẫu hệ (nhóm 5-50 con do lợn nái dẫn dắt, lợn đực trưởng thành sống độc thân), lợn con mới sinh có sọc dưa và các sọc này mất đi ở thời điểm 6 tháng tuổi. Về bệnh tật, Võ Văn Sự (2013) và Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2002) chỉ ra lợn rừng có thể mắc các bệnh truyền nhiễm như lợn nhà (lở mồm long móng, dịch tả, tiêu chảy, viêm phổi), tỷ lệ chết lợn con đến cai sữa tại Thái Lan là khoảng 20%.

Tại Việt Nam, Lê Hiến Hào (1973) trong cuốn sách "Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam" là người đầu tiên khởi xướng ý tưởng khai thác chăn nuôi lợn rừng, đồng thời công bố số liệu sinh học: lợn rừng miền Bắc (Sus scrofa Linnaeus) đẻ mỗi lứa 3-10 con (trung bình 5-6 con), khối lượng sơ sinh 800-1.200 g, 7 tháng tuổi nặng 20-25 kg, lợn đực giống phối khi đạt 40-60 kg lúc 9 tháng tuổi, tỷ lệ ghép đực/cái từ 1:5 đến 1:7. Sau khi phong trào nuôi lợn rừng bùng phát từ đàn lợn Thái Lan nhập khẩu năm 2005 (Đỗ Kim Tuyên, 2006), Tăng Xuân Lưu và cộng sự (2010) thống kê lợn rừng được nuôi chủ yếu ở phía Nam (chiếm 65%), trang trại Công ty Khánh Giang có 200 nái, cùng nhiều hệ thống trang trại tại Ba Vì, Hòa Lạc, Vĩnh Yên. Lê Đình Phùng và Hà Thị Nguyệt (2011) xác định lợn rừng Thái Lan có số con sơ sinh là 5,87 con/lứa, sống đến cai sữa là 4,43 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 0,37 kg/con, khối lượng cai sữa lúc 120 ngày tuổi đạt 13,83 kg/con, khoảng cách lứa đẻ 229,3 ngày. Võ Văn Sự (2008, 2013) ghi nhận tuổi phối giống lần đầu là 6,29 tháng, tỷ lệ phối chửa 79,18%, khoảng cách hai lứa đẻ là 197,5 ngày, số con sơ sinh lứa 1 đạt 5,17 con và lứa 2 đạt 6,67 con. Đáng lưu ý, tác giả Võ Văn Sự (2013) khi huấn luyện 2 lợn đực rừng nhảy giá gỗ đã ghi nhận hiện tượng lợn nhảy giá nhưng không xuất tinh, buộc phải dùng lợn cái làm giá với lượng xuất tinh thu được từ 120 đến 200 ml, hoạt lực tinh trùng đạt 0,9 điểm.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Trước năm 2017, các số liệu về sinh lý sinh sản của lợn rừng nhập nội nuôi nhốt tại miền Bắc còn tản mạn và thiếu hệ thống; kỹ thuật khai thác tinh lợn rừng bằng giá nhảy nhân tạo chưa được hoàn thiện; các chỉ tiêu sinh lý, hóa tính của tinh dịch lợn rừng chưa được lượng hóa chi tiết; chưa có nghiên cứu thử nghiệm hoàn chỉnh quy trình thụ tinh nhân tạo từ khâu huấn luyện đực nhảy giá nhân tạo, thu thập tinh, pha chế bảo tồn tinh dịch dạng lỏng cho đến dẫn tinh cho lợn Rừng và lợn bản địa Móng Cái trong điều kiện nuôi nhốt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng cơ sở lý thuyết về sinh lý sinh sản động vật có vú, tập tính học động vật nuôi nhốt và công nghệ thụ tinh nhân tạo gia súc. Các khái niệm và chỉ tiêu phân tích gồm: tuổi thành thục tính dục, chu kỳ động dục, tuổi phối giống lần đầu, thời gian mang thai, thể tích tinh dịch đã lọc ($V$, ml), hoạt lực tinh trùng tiến thẳng ($A$), nồng độ tinh trùng ($C$, triệu/ml), tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần xuất tinh ($VAC = V \times A \times C$, tỷ/lần), tỷ lệ kỳ hình ($K$, %), độ pH và chỉ số sức sống tuyệt đối của tinh trùng trong môi trường bảo tồn ($S_a = \sum at$).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp định tính kết hợp định lượng thực nghiệm chăn nuôi và thú y:

  • Phương pháp nuôi dưỡng, chuồng trại: Chuồng lợn nái hậu bị và mang thai làm bằng khung lưới B40 có móng kiên cố diện tích 50-100 m² (chuồng mái che 20-25 m², còn lại là sân chơi); chuồng nái nuôi con diện tích 15-20 m² (mái che 7-10 m²); chuồng sau cai sữa diện tích 60-100 m² (mái che 20-40 m²); chuồng lợn đực nuôi riêng từng con diện tích 40-50 m² (mái che 10-15 m²). Mái chuồng cao trên 2,0 m, nền đất tự nhiên có độ dốc 2-3%, có hố tắm bùn và vòi nước uống tự động. Khẩu phần ăn kết hợp 50% thức ăn thô xanh (thân cây chuối, cỏ voi, chè khổng lồ, rau muống, dây khoai lang) và 50% thức ăn tinh (bột ngô, cám gạo, bột sắn khô, bã đậu, hèm bia). Nái mang thai ăn 1-1,5 kg tinh bột/ngày (protein thô 11-13%); nái nuôi con ăn 2-3 kg cám/ngày và 2-4 kg rau cỏ tự do; đực giống ăn 3 kg cám/ngày chia 3 bữa, bổ sung 1-2 quả trứng sau mỗi lần lấy tinh hoặc phối giống. Thức ăn cho ăn sống hoàn toàn, không nấu chín. Lợn được tiêm phòng định kỳ các bệnh: Lở mồm long móng, Tai xanh, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Dịch tả và tẩy giun định kỳ.
  • Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh sản: Theo dõi bằng quan sát lâm sàng trực tiếp kết hợp sổ sách ghi chép chuồng trại. Khối lượng các lứa tuổi được cân trực tiếp bằng cân đồng hồ Nhơn Hòa loại 5 kg (độ sai số từ ±10 g đến ±30 g).
    • Tỷ lệ nuôi sống đến 24h (%): $$\text{Tỷ lệ nuôi sống 24h} = \frac{\text{Tổng số lợn con sống sau 24 giờ}}{\text{Tổng số lợn con sinh ra}} \times 100$$
    • Tỷ lệ nuôi sống đến 60 ngày (%): $$\text{Tỷ lệ sống đến 60 ngày} = \frac{\text{Tổng số lợn con sống đến 60 ngày}}{\text{Tổng số lợn con sống đến 24 giờ sau sinh}} \times 100$$
  • Phương pháp huấn luyện đực nhảy giá và khai thác tinh: Đàn 7 đực hậu bị được thuần dưỡng từ 60 ngày tuổi tại trại Hụ Linh. Khi đạt 8 tháng tuổi, tiến hành huấn luyện gồm 5 bước kỹ thuật: dẫn lợn tham quan phòng lấy tinh 2 lần/ngày (sáng 15 phút, chiều 15 phút); quan sát con khác nhảy giá; sử dụng lợn nái Móng Cái nhốt dưới gầm giá nhảy làm mồi kích thích tính hăng; người lấy tinh mang găng tay ni-lông mát-xa bao dương vật và đoạn xoắn quy đầu để tạo áp lực tương tự âm đạo; bỏ dịch ban đầu chứa keo nhầy và tinh thanh, chỉ hứng phân đoạn 2 (đậm đặc) qua cốc thủy tinh có 4-6 lớp vải gạc vô trùng. Chu kỳ khai thác 3-5 ngày/lần vào 6h00 sáng trước khi cho ăn.
  • Phương pháp kiểm tra chất lượng tinh dịch:
    • Màu sắc: Quan sát mắt thường (trắng sữa, trắng trong, màu khác).
    • Thể tích ($V$): Đo bằng cốc thủy tinh chia vạch đã lọc bỏ keo phèn.
    • Hoạt lực ($A$): Đánh giá trên kính hiển vi theo thang điểm 0,1 (5-15% tiến thẳng) đến 1,0 (96-100% tiến thẳng).
    • Nồng độ tinh trùng ($C$): Đo bằng máy so màu quang học SDM-5 của hãng Minitüb (Đức) theo phương pháp 3 (hỗn hợp gồm 3,5 ml nước muối sinh lý và 70 µl tinh dịch).
    • Tỷ lệ kỳ hình ($K$%): Nhuộm tiêu bản dàn mỏng bằng dung dịch xanh methylen 5% hoặc đỏ Fucsin 5%, hơ cố định nhiệt trên đèn cồn, soi đếm trên kính hiển vi.
    • Độ pH: Đo bằng giấy đo pH chuẩn, so màu 3 lần lấy giá trị trung bình.
    • Bảo tồn tinh dịch lỏng trong môi trường L.N ở 16-18°C, xác định chỉ số $S_a = \sum at$.
    • Thử nghiệm dẫn tinh: Dẫn tinh dịch pha loãng cho 3 lợn Rừng cái lứa 2 tại trại Mỹ Hạnh và 3 lợn Móng Cái lứa 2 tại trại Hụ Linh.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học trên máy tính bằng phần mềm Microsoft Excel và phần mềm SPSS, xác định giá trị trung bình, sai số chuẩn (SE) và tỷ lệ phần trăm (%).

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở sinh học và thực tiễn phát triển ngành chăn nuôi lợn rừng. Luận án phân tích chi tiết nguồn gốc phát sinh và phân bố địa lý của loài Sus scrofa từ Bắc Phi, đại lục Á - Âu kéo dài từ quần đảo Anh đến Triều Tiên, Indonesia và Nhật Bản. Luận án tổng hợp các đặc điểm giải phẫu và hình thái học của phân loài lợn rừng Thái Lan mặt dài: tai nhỏ dựng đứng ép sát đầu, má có vệt lông trắng vắt ngang qua sống mũi, bụng thon không sệ, chân nhỏ móng đen nhọn, móng đeo cao, lông ráp cứng với cấu trúc mỗi cụm chân lông gồm 3 lỗ và mỗi lỗ có 1 sợi lông, dọc sống lưng có bờm lông dài trên 6 cm dựng đứng khi bị kích thích, da vùng vai dày tới 3-5 cm. Về tập tính sinh học, chương tổng quan chỉ rõ lợn rừng có khứu giác phát triển vượt trội bù đắp cho thị giác và thính giác kém; tập tính bầy đàn mang tính xã hội cao theo chế độ mẫu hệ, lợn đực sống độc thân chỉ gia nhập đàn vào mùa sinh sản; lợn rừng có khả năng di chuyển kiếm ăn ban đêm từ 2 đến 15 km. Chương này cũng phân tích sâu lịch sử nuôi lợn rừng tại Việt Nam từ khởi xướng của Lê Hiến Hào (1973) đến các mô hình trang trại nhập giống Thái Lan sau năm 2005, đồng thời khẳng định vai trò kỹ thuật của thụ tinh nhân tạo trong việc nâng cao phẩm cấp giống, kiểm soát dịch bệnh và hạn chế chấn thương cơ học khi giao phối trực tiếp.

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết quy chuẩn triển khai thực nghiệm tại 3 địa bàn (Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nội) cùng quy mô theo dõi đàn lợn lên tới 1.080 con tại các trang trại liên kết. Luận án chuẩn hóa quy cách chuồng trại bán hoang dã với nền đất tự nhiên dốc 2-3%, diện tích sân chơi kết hợp mái che thông thoáng, hệ thống vòi uống tự động và máng ăn riêng biệt. Khẩu phần nuôi dưỡng được chuẩn hóa theo tỷ lệ 50% thức ăn thô xanh tươi sống và 50% thức ăn tinh hỗn hợp tự phối trộn (bột ngô, cám gạo, bột sắn, protein 11-13%), bảo đảm không nấu chín. Luận án thiết kế quy trình huấn luyện đực nhảy giá gồm 5 bước cụ thể, bố trí rào chắn thoát hiểm kép cách nhau 30 cm trong phòng lấy tinh để bảo vệ kỹ thuật viên. Luận án quy chuẩn hóa quy trình đánh giá 7 chỉ tiêu chất lượng tinh dịch lợn rừng bằng thiết bị máy so màu quang học SDM-5 (Minitüb, Đức), thang điểm hoạt lực $A$, chỉ số tinh trùng tiến thẳng $VAC$, kỹ thuật nhuộm tiêu bản kiểm tra tỷ lệ kỳ hình $K$ và phương pháp đo độ pH bằng giấy chỉ thị. Luận án cũng trình bày phương pháp bảo quản tinh dịch lỏng trong môi trường pha chế L.N và kỹ thuật dẫn tinh thực nghiệm trên lợn Rừng và lợn Móng Cái.

Kết quả và thảo luận

Chương Kết quả và thảo luận bao gồm 2 nhóm kết quả chính:

1. Các chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan: Luận án trình bày kết quả thực nghiệm về các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn rừng nuôi nhốt qua hệ thống theo dõi tại Vĩnh Phúc, Hòa Bình và Hà Nội:

  • Tuổi thành thục tính dục và tuổi phối giống lần đầu: Lợn rừng cái đạt thành thục tính dục lúc 182 ngày tuổi (khoảng 6 tháng tuổi), chu kỳ động dục được xác định cụ thể theo dõi qua các pha lâm sàng; thời điểm phối giống thích hợp nhất là ở pha "mê ì" khi lợn cái có biểu hiện chịu đực rõ nét.
  • Thời gian mang thai và tuổi đẻ lứa đầu: Thời gian mang thai dao động quanh ngưỡng 114 ngày (tương đương lợn nhà). Quá trình đẻ diễn ra tự nhiên trong 2-4 giờ.
  • Năng suất sinh sản và khối lượng: Số lượng con sinh ra/lứa, khối lượng sơ sinh đạt từ 0,5 đến 0,9 kg/con; theo dõi khối lượng liên tục từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi, 8 tháng tuổi và 10 tháng tuổi. Lợn con sơ sinh mang sọc dưa dọc thân, các sọc này mất hoàn toàn lúc 6 tháng tuổi.
  • Tỷ lệ nuôi sống: Luận án phân tích và so sánh đồ thị tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn con tại thời điểm 24 giờ sau sinh và tại 60 ngày tuổi giữa các địa bàn nghiên cứu, phản ánh mức độ thích nghi của đàn lợn nuôi nhốt.
  • Khả năng hồi phục sinh sản: Thời gian động dục lại của lợn mẹ sau khi cai sữa lợn con và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ được định lượng chính xác làm cơ sở tính toán vòng quay đàn.

2. Kết quả nghiên cứu về thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng:

  • Kết quả huấn luyện đực nhảy giá: Trong 7 lợn đực đưa vào huấn luyện từ 8 tháng tuổi, có 4 cá thể (R1, R2, R3, R4) huấn luyện thành công nhảy giá bê tông/di động và xuất tinh bình thường khi mát-xa bằng tay; 3 cá thể còn lại không thích ứng nhảy giá hoặc không xuất tinh được loại chuyển sang phối trực tiếp.
  • Đánh giá chất lượng tinh dịch: Tinh dịch lợn rừng ở phân đoạn đậm đặc có màu trắng sữa đặc trưng. Các chỉ tiêu thể tích tinh dịch đã lọc ($V$, ml), hoạt lực tiến thẳng ($A$), nồng độ tinh trùng ($C$, triệu/ml), tổng số tinh trùng tiến thẳng ($VAC$, tỷ/lần), tỷ lệ kỳ hình ($K$, %) và độ pH được định lượng cho từng cá thể lợn đực R1, R2, R3, R4 và tổng hợp chung.
  • Bảo tồn tinh dịch: Đánh giá khả năng bảo tồn tinh dịch dạng lỏng trong môi trường L.N, xác định chỉ số sức sống tuyệt đối ($S_a = \sum at$) của tinh trùng trong quá trình bảo quản ở nhiệt độ 16-18°C.
  • Kết quả dẫn tinh thực nghiệm: Tinh dịch lợn rừng sau pha chế được dẫn tinh thành công cho lợn Rừng cái và lợn Móng Cái lứa đẻ thứ 2. Kết quả ghi nhận tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ đẻ, số con sinh ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống đến 24 giờ và 60 ngày tuổi, khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc 60 ngày tuổi. Đáng chú ý, văn bản ghi nhận thực nghiệm đàn lợn Rừng thuần sinh 10 con và đàn lợn Móng Cái lai lợn Rừng sinh 10 con hoàn toàn bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo.

Dưới đây là danh mục 23 bảng biểu thống kê số liệu thực nghiệm được công bố trong Chương Kết quả và thảo luận của luận án:

STT Bảng Tên bảng số liệu trong văn bản luận án
Bảng 4.1 Tuổi thành thục tính dục của lợn Rừng cái
Bảng 4.2 Chu kỳ động dục của lợn Rừng
Bảng 4.3 Tuổi phối giống lần đầu của đàn lợn Rừng cái
Bảng 4.4 Thời điểm phối giống thích hợp của lợn Rừng
Bảng 4.5 Thời gian mang thai của lợn Rừng
Bảng 4.6 Số lượng con sinh ra/lứa của lợn Rừng cái
Bảng 4.7 Khối lượng lợn Rừng từ sơ sinh đến 10 tháng tuổi tại các địa bàn nghiên cứu
Bảng 4.8 Thời gian động dục lại của lợn Rừng mẹ sau cai sữa lợn con
Bảng 4.9 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của lợn Rừng
Bảng 4.10 Kết quả huấn luyện khai thác tinh lợn Rừng
Bảng 4.11 Màu sắc tinh dịch của lợn Rừng
Bảng 4.12 Lượng xuất tinh đã lọc của lợn Rừng (V, ml)
Bảng 4.13 Hoạt lực tinh trùng của lợn Rừng (A, cho điểm từ 0,00 đến 1,00)
Bảng 4.14 Nồng độ tinh trùng của lợn Rừng (C, triệu/ml)
Bảng 4.15 Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong lần xuất tinh của lợn Rừng (VAC, tỷ/lần)
Bảng 4.16 Tỷ lệ kỳ hình của tinh trùng lợn Rừng (K, %)
Bảng 4.17 pH tinh dịch của lợn Rừng
Bảng 4.18 Tổng hợp số và chất lượng tinh dịch lợn Rừng
Bảng 4.19 Kết quả bảo tồn tinh dịch lợn Rừng trong môi trường L
Bảng 4.20 Chỉ số sức sống tuyệt đối (Sa=∑at) của tinh trùng lợn thí nghiệm được bảo tồn trong môi trường L
Bảng 4.21 Tỷ lệ thụ thai và tỷ lệ đẻ của lợn Rừng và lợn Móng Cái được dẫn tinh bằng tinh dịch lợn Rừng
Bảng 4.22 Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến 24 giờ và 60 ngày tuổi sau khi sinh
Bảng 4.23 Khối lượng sơ sinh và khối lượng 60 ngày tuổi (kg)

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự công bố các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:

  1. Đóng góp về lý luận và khoa học:
  • Đây là công trình nghiên cứu khoa học công bố tổng hợp và có hệ thống đầu tiên về các chỉ tiêu sinh sản, sức sản xuất tinh dịch và khả năng ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo của giống lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan trong điều kiện chăn nuôi nuôi nhốt tại miền Bắc Việt Nam.
  • Lần đầu tiên nghiên cứu, đánh giá toàn diện về số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực Rừng tại Việt Nam thông qua hệ thống chỉ tiêu sinh lý - hóa tính chuẩn mực ($V$, $A$, $C$, $VAC$, $K$, pH, $S_a$).
  • Khẳng định khả năng huấn luyện lợn đực Rừng khai thác tinh bằng giá nhảy nhân tạo (giá bê tông hoặc giá di động) và chứng minh hiệu quả thụ tinh nhân tạo thành công trên cả lợn Rừng thuần và lợn cái bản địa Móng Cái qua các chỉ tiêu sinh sản thực tế của đàn con sinh ra.
  1. Đóng góp về thực tiễn và giải pháp đề xuất:
  • Cung cấp nguồn tư liệu và số liệu cơ sở phục vụ người chăn nuôi và cán bộ kỹ thuật xây dựng quy trình quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp (chuồng trại có sân chơi, thức ăn tươi sống 50% thô xanh kết hợp tinh bột) nhằm nâng cao năng suất sinh sản của lợn rừng.
  • Cung cấp quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh từ khâu thuần dưỡng, huấn luyện lợn đực nhảy giá, kỹ thuật mát-xa khai thác tinh bằng tay, quy trình kiểm tra chất lượng tinh dịch bằng thiết bị quang học và pha chế bảo quản tinh dịch lỏng trong môi trường L.N.
  • Đề xuất ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo nhằm nhân giống lợn rừng chất lượng cao trên quy mô trang trại, giảm chi phí đầu tư nuôi giữ nhiều đực giống, khắc phục tình trạng chênh lệch tầm vóc giữa đực và cái, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý nhà nước đề ra chính sách quản lý, định hướng phát triển đàn lợn rừng bền vững cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu an toàn sinh học và nhu cầu thị trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các dữ kiện được tác giả trình bày và phạm vi thực hiện của đề tài, các hạn chế và hướng nghiên cứu mở rộng bao gồm:

  • Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung khảo sát trên dòng lợn Rừng có nguồn gốc nhập nội từ Thái Lan, chưa mở rộng nghiên cứu đối chứng song song trên các dòng lợn rừng bản địa thuần chủng của Việt Nam (Sus scrofa Linnaeus hoặc Sus bucculentus).
  • Về phạm vi địa lý: Thực nghiệm chỉ giới hạn tại các trang trại thuộc khu vực miền Bắc (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hòa Bình), chưa khảo sát so sánh tại các vùng sinh thái miền Trung và miền Nam, nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm khác biệt.
  • Về dung lượng mẫu thử nghiệm thụ tinh nhân tạo: Số lượng lợn đực đưa vào huấn luyện khai thác tinh dừng lại ở 7 cá thể (huấn luyện thành công 4 cá thể R1-R4); số lượng lợn nái đưa vào thử nghiệm dẫn tinh nhân tạo gồm 3 nái Rừng và 3 nái Móng Cái lứa đẻ thứ 2.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô thử nghiệm huấn luyện khai thác tinh trên số lượng đực giống lớn hơn nhằm nâng cao tỷ lệ đực thích ứng với giá nhảy; nghiên cứu sâu hơn về môi trường pha loãng bảo tồn tinh dịch lợn rừng dạng đông lạnh cọng rạ để lưu trữ lâu dài; ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo đại trà trên các quy mô đàn nái thương phẩm và các giống lợn bản địa khác tại nhiều địa phương.

Giá trị tham khảo

Kết quả của luận án có giá trị tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Chăn nuôi, Thú y, Công nghệ sinh học và Sinh học động vật tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp: Sử dụng luận án làm tài liệu học tập, giảng dạy chuyên đề về sinh lý sinh sản động vật hoang dã nuôi nhốt và kỹ thuật thụ tinh nhân tạo gia súc.
  • Cán bộ kỹ thuật và chủ các trang trại chăn nuôi lợn rừng giống và thương phẩm: Tham khảo trực tiếp quy chuẩn thiết kế chuồng trại (mô hình kết hợp sân chơi đất tự nhiên), khẩu phần ăn sống (50% thô xanh, 50% tinh bột), quy trình chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến cai sữa 60 ngày tuổi, quy trình 5 bước huấn luyện đực nhảy giá và kỹ thuật mát-xa khai thác tinh dịch.
  • Cán bộ nghiên cứu tại các viện, trung tâm giống vật nuôi: Kế thừa quy trình kiểm tra chất lượng tinh dịch bằng máy so màu SDM-5, chỉ số sức sống tuyệt đối $S_a$ và công thức môi trường bảo tồn tinh dịch lỏng L.N phục vụ công tác truyền giống nhân tạo.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp và khuyến nông: Tham khảo các thông số kỹ thuật thực chứng để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật chăn nuôi lợn rừng an toàn sinh học và hoạch định chính sách đa dạng hóa vật nuôi đặc sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Tuổi thành thục tính dục và tuổi phối giống lần đầu của lợn Rừng cái trong nghiên cứu được xác định là bao nhiêu? Trong điều kiện nuôi nhốt tại các trang trại nghiên cứu, lợn Rừng cái nhập nội từ Thái Lan có tuổi thành thục tính dục trung bình là 182 ngày tuổi (khoảng 6 tháng tuổi). Tuổi phối giống lần đầu được xác định sau khi đã bỏ qua 1 đến 2 chu kỳ động dục đầu tiên để cơ thể lợn đạt sự phát triển thể chất hoàn thiện, với thời điểm phối giống thích hợp nhất là giai đoạn lợn xuất hiện phản xạ "mê ì".

2. Quy trình huấn luyện lợn đực Rừng nhảy giá khai thác tinh đạt kết quả như thế nào và gồm những bước nào? Trong số 7 lợn đực được tuyển chọn từ 60 ngày tuổi và nuôi thuần dưỡng, khi đạt 8 tháng tuổi được đưa vào huấn luyện, kết quả có 4 cá thể (R1, R2, R3, R4) nhảy giá và xuất tinh thành công (tỷ lệ trên 57%); 3 cá thể không đạt được loại ra để phối trực tiếp. Quy trình gồm 5 bước: cho lợn làm quen phòng lấy tinh 2 lần/ngày (sáng 15 phút, chiều 15 phút); cho quan sát con khác nhảy giá; sử dụng lợn nái Móng Cái nhốt dưới gầm giá nhảy làm mồi kích thích tính hăng; kỹ thuật viên đeo găng ni-lông mát-xa bao dương vật và đoạn xoắn quy đầu để kích thích xuất tinh; hứng phân đoạn tinh dịch đậm đặc (phân đoạn 2) qua 4-6 lớp vải gạc vô trùng, thời gian xuất tinh kéo dài 5-8 phút.

3. Chất lượng tinh dịch của lợn đực Rừng được đánh giá qua những chỉ tiêu cụ thể nào và sử dụng phương tiện gì? Chất lượng tinh dịch được đánh giá toàn diện qua 7 chỉ tiêu: Màu sắc (quan sát mắt thường theo 3 mức: trắng sữa, trắng trong, khác thường); Thể tích xuất tinh đã lọc $V$ (đo bằng cốc thủy tinh chia vạch lọc qua gạc vô trùng); Hoạt lực tiến thẳng $A$ (thang điểm 0,1 đến 1,0 trên kính hiển vi); Nồng độ tinh trùng $C$ (triệu/ml, đo bằng máy so màu quang học SDM-5 của Minitüb theo phương pháp 3); Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong lần xuất tinh $VAC = V \times A \times C$ (tỷ/lần); Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình $K$% (nhuộm tiêu bản xanh methylen 5% hoặc đỏ Fucsin 5%, soi kính hiển vi); và độ pH tinh dịch (xác định bằng giấy đo pH chuẩn, so màu 3 lần).

4. Kết quả thử nghiệm thụ tinh nhân tạo trên lợn Rừng thuần và lợn Móng Cái đạt được quy mô đàn con như thế nào? Thử nghiệm dẫn tinh dịch lợn Rừng pha loãng trong môi trường L.N được tiến hành trên 3 lợn Rừng cái lứa 2 tại trang trại Mỹ Hạnh và 3 lợn Móng Cái lứa 2 tại trang trại Hụ Linh. Kết quả thực nghiệm khẳng định tỷ lệ thụ thai và tỷ lệ đẻ thành công, trong đó luận án ghi nhận đàn lợn Rừng thuần sinh 10 con/lứa và đàn lợn Móng Cái lai lợn Rừng sinh 10 con/lứa hoàn toàn bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, đàn con sinh ra có khối lượng và tỷ lệ nuôi sống ổn định ở mốc 24 giờ và 60 ngày tuổi.

5. Khẩu phần dinh dưỡng và chế độ cho ăn của đàn lợn Rừng trong nghiên cứu được thiết kế ra sao? Thức ăn được cho ăn sống hoàn toàn, chia làm 2 nhóm: 50% thức ăn thô xanh (thân chuối, cỏ voi, chè khổng lồ, dây lang) và 50% thức ăn tinh tự phối trộn (bột ngô, cám gạo, bột sắn khô, bã đậu, hèm bia). Nái mang thai ăn 1 kg tinh bột/ngày trong 2,5 tháng đầu, tăng lên 1,5 kg/ngày trong 2 tuần trước khi đẻ (protein 11-13%); nái nuôi con ăn 2-3 kg cám/ngày cùng 2-4 kg rau xanh tự do; lợn hậu bị ăn 1 kg cám/ngày chia 2 bữa (7h00 và 15h00); đực giống ăn 3 kg thức ăn tinh/ngày chia 3 lần và được bổ sung thêm 1-2 quả trứng sau mỗi lần lấy tinh hoặc phối giống.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phùng Quang Trường là công trình thực nghiệm khoa học có hệ thống đầu tiên xác định đầy đủ các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của giống lợn Rừng nguồn gốc Thái Lan nuôi nhốt tại miền Bắc Việt Nam. Đề tài đã giải quyết thành công vấn đề kỹ thuật khai thác tinh dịch lợn đực rừng bằng giá nhảy nhân tạo và thao tác mát-xa bằng tay, khắc phục hạn chế phụ thuộc vào lợn cái làm giá của các nghiên cứu trước đó. Các chỉ tiêu lý hóa và chất lượng tinh dịch lợn rừng được định lượng chi tiết thông qua các thiết bị chuẩn thức như máy so màu SDM-5 và kính hiển vi, làm cơ sở khoa học tin cậy cho việc bảo tồn tinh dịch dạng lỏng. Thử nghiệm dẫn tinh thành công trên lợn Rừng thuần và lợn Móng Cái khẳng định tính khả thi và tiềm năng ứng dụng rộng rãi của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trong việc nhân giống, nâng cao năng suất và phát triển bền vững nghề chăn nuôi lợn rừng tại Việt Nam.