Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Lúa nếp Khâu Tan Đón ở Thắm Dương Chương 3: Từ “Nếp Tham Dương” đến CDĐL: Quá trình xây dựng và quản lý CDĐL Thâm Dương ở các cấp quản lý nhà nước Chương 4: Sự tương tác giữa nhà nước và nông dân trong quá trình phát triển CDĐL Thâm Dương 10 CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Lich sử nghiên cứu van dé: Quan lý nhà nước về các đặc san lúa gao và bao hộ Chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam Nghiên cứu về lúa gạo không phải là một lĩnh vực mới xuất hiện. Cho đến nay, trong các kho lưu trữ và các thư viện đã có nhiều tài liệu trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề lúa gạo ở Việt Nam với những cách tiếp cận khác nhau: tiếp cận sinh học, đi truyền học, nông học, kinh tế học, luật học, lịch sử, khảo cô học — thực vat, dân tộc — thực vật học, ngôn ngữ học - dân tộc và nhân học — dân tộc học, v. Qua quá trình khảo cứu các tài liệu, tôi nhận thấy có một số vấn đề chính thường được các nhà nghiên cứu tập trung giải quyết, ví dụ như: (1) Các giống lúa ở Việt Nam và cơ cấu lương thực (2) Nguồn gốc của cây lúa Việt Nam (3) Các giai đoạn hình thành nông nghiệp ở Việt Nam (4) Các hình thức canh tác lúa trong lịch sử: các giai đoạn, phân loại, kĩ thuật (5) Các nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp va cây lúa (6) Quản lý nhà nước về vấn đề lúa gạo Trong đó, Sinh học, Di truyền học, Nông học, Lịch sử và Khảo cô học — thực vật chủ yêu giải thích vấn đề 4 vấn dé đầu tiên; cách tiếp cận dân tộc — thực vật hoc, ngôn ngữ - dân tộc học và nhân học — dân tộc học đi sâu vào vấn đề 4, 5. Đối với van dé (6) quản ly nhà nước về lúa gạo, các tiếp cận chủ yếu là kinh tế học, pháp luật, lịch sử và nghiên cứu chính sách.
Đây cũng là vấn đề mà luận văn này sẽ tập trung khảo cứu tài liệu. Việc phát triển các giống lúa năng suất cao từ giữa những năm 1960 đã đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì an ninh lương thực và sinh kế ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam (Trinh Nguyen Chau và Scrimgeour 2020). Năm 1968, cuộc Cách Mạng Xanh ở Việt Nam đã đánh dấu bước chuyển mình 11 quan trọng của nền nông nghiệp Việt Nam, khởi đầu bằng việc nhập khâu các giống lúa có năng suất cao (lai hoặc thuần) không có nguồn gốc bản địa của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) (Vu Tuyen Hoang 1994). Cùng các chính sách tăng năng suất lúa gạo và sự ra đời của Hợp tác xã nông nghiệp (HTX) thuộc chế độ tập thể hoá, các giống lúa nhập khâu từ IRRI đã phân tán rộng khắp và dân thay thế cho các giống cô truyền, bước đầu ở Đồng bằng Sông Cửu Long, và sau đó là miền Bắc trong suốt thời gian từ 1969! đến những năm 90 (Vu Tuyen Hoang 1994; Vo Tong Xuan 1994; Trung Dang 2018; Hurt 2020).
Riêng lúa lai, từ năm 1985 đến năm 2009, đã có tới 68 giống cao sản lai được canh tác, chiếm 98% tổng diện tích lúa. Trong đó, có 21 giống được phát triển bởi IRRI cùng với những giống khác từ các trung tâm nghiên cứu trong nước. Ké từ 2006, tốc độ tăng năng suất lúa lai đã chậm lại và đến năm 2010, các giống lúa lai chỉ chiếm 13% tong diện tích canh tác lúa, trong đó giống nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 80% tổng lượng giống lai sử dụng (Brennan và Malabayabas 2011; Trinh Nguyen Chau và Scrimgeour 2020). Dù vậy, hiện nay hàng loạt các giống lúa cao năng đến từ việc nhập khẩu và công nghệ lai tạo vẫn đang chiếm lĩnh thị trường lúa gạo nước ta.
Nó đã đặt ra một thách thức mới đó là vấn đề chất lượng gạo và thậm chí là sự cạnh tranh gay gắt giữa thương hiệu gạo Việt và quốc tế. Nhằm tái cấu trúc lại ngành lúa gạo của Việt Nam, chính phủ gần đây đã bắt đầu thực hiện các chính sách thúc đây giá trị thương hiệu gạo bản địa trên thị trường trong nước và quốc tế (MARD, NOIP, MALICA và RUDEC 2015; Tran Quoc Cong và Do Ngoc Hien 2016), đặc biệt là thông qua Dé án Tái cơ cầu ngành lúa gạo Việt Nam, Đề án Phát triển thương hiệu gạo Việt Nam và Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam”. Năm 2016, “Diễn đàn Thương hiệu quốc gia với sản phẩm địa phương” được tô chức trong bối cảnh ! IR8 hay Thần Nông được dùng với tên gọi Nông Nghiệp 8 (NN8) ở miền Bắc, được nhân giống rộng rãi trong năm 1969, và chẳng bao lâu sau đã bao phủ khoảng 50% diện tích lúa ở miền Bắc Việt Nam. 2 Trong các chuyến điền dã ở địa bàn tỉnh Lào Cai (Văn Bàn, Bảo Yên, Bát Xát), không chỉ có NN8, tôi cũng được người dân cung cấp thông tin về sự xuất hiện của các giống lúa có nguồn gốc Trung Quốc trong thời kỳ HTX ci.
3 Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam (Quyết định số 1898/QD-BNN-TT 23/05/2016; Quyết định 555/QD-BNN-TT 26/01/2021); Đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định 706/QĐ-TTg năm 2015). 12 các địa phương đang nỗ lực kết hợp phát triển kinh tế với việc chú trọng xây dựng hình ảnh về địa phương, vùng miền gắn với việc nâng cao hình ảnh quốc gia trong con mắt của cộng đồng quốc tế (Bộ công thương 2016). Do đó, việc phát triển thương hiệu gạo bản địa không chỉ dừng ở việc phát triển một sản phẩm mà còn là quá trình “quốc gia hoá đặc sản địa phương” — một quá trình mang ý niệm chính trị nhằm góp phần xây dựng và phát triển sức cạnh tranh tổng thể của quốc gia. Tại Việt Nam, các chính sách nằm trong các dé án và chiến lược chung về phát triển ngành lúa gạo và nâng tầm thương hiệu gạo bản địa gắn với việc phát triển Nhãn hiệu (từ 1988) và CDĐL (từ 2000).
Cho đến năm 2021, theo thống kê của Cục sở hữu trí tuệ, đã có 1457 nhãn hiệu tập thể và 497 nhãn hiệu chứng nhận được cấp. Trái với sự phát triển của Nhãn hiệu, số lượng văn bằng bảo hộ CDDL ở Việt Nam còn khiêm tốn, dừng ở con số 116 văn bang sau hon 20 năm phát triển. Xét riêng về các sản phẩm lúa gạo, có 56/1457 nhãn hiệu tập thể, 27/497 nhãn hiệu chứng nhận và 10/116 CDĐL (tính đến tháng 8/2021 dựa trên danh sách tổng hợp của Cục sở hữu trí tuệ công bố trên website điện tử chính thức). Tuy số lượng lớn hơn CDĐL nhiều lần, các Nhãn hiệu lại dễ xảy ra tranh chấp bởi cùng một sản phẩm có thể đăng ký nhiều nhãn hiệu khác nhau và không mang tính độc quyền, dẫn đến việc đôi khi có thể mất kiểm soát chất lượng của sản phẩm (Marie-Vivien và cộng sự 2015).
Dưới đây là một bang tổng hợp so sánh và phân biệt giữa Nhãn hiệu tập thé, Nhãn hiệu chứng nhận và CDDL: Nhãn hiệu chứng Nhãn hiệu tập thê nhận CDDL Phân biệt hang hóa, | Là nhãn hiệu ma chu dịch vụ của các thành sở hữu nhãn hiệu cho Bảo hộ tên địa lý chỉ viên của tô chức là phép tô chức, cá nhân nguôn goc địa lý của Chức năng chủ sở hữu nhãn hiệu | khác sử dụng trên hàng | sản phâm từ khu vực, Am mm. nk | ge ` (Điều 4) đó với hàng hóa, dịch hóa, dịch vụ của tô | địa phương, vùng vụ của các cá nhân, tô chức, cá nhân đó đê lãnh thô hoặc quôc chức kinh doanh khác chứng nhận các đặc gia cụ thê. không phải là thành tính vê xuât xứ, nguyên 4 Nghị định số 197/HĐBT về Điều lệ Nhãn hiệu hàng hóa; Nghị định số 85-HĐBT ngày 13/5/1988 về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp; Nghị định số 200-HĐBT ngày 28/12/1988 về bảo hộ giải pháp hữu ích; Nghị định số 201-HDBT về li-xăng sở hữu công nghiệp. 13 viên của tô chức đó liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu Tổ chức, cá nhân sản xuât sản phâm mang CDĐL, tô chức tập Quyển | ee Tổ đăng ký | Tô chức tập thê được | ,.
chức, cሠnhân tiến | thé A đại oy diện cho ĐẠT các a, CÀ ` R. hành hoạt động thương | tô chức, cá nhân đó (Điêu 87, | thành lập hợp pháp. P x nae 88) mai hop phap hoặc co quan quản lý hành chính = dia phương nơi có CDĐL Quyền sở ; ` , A hữu LÀ | Tổ chức tập thể noép|. „ : „ Chủ thê nộp đơn Nhà nước (không phải chủ thê nộp (Điêu 88, | đơn đơn) 121) Quy chê đặc biệt P ^ : Ạ (Điều Có Không Quy định trong luật 105, 106) Tô chức, cá nhân tiên Quyền h.
:A , a) Người v2 QIA bất kỳ Ậ tuân thủ | Hành ,|san việc phâm sản xuât mang sử dụng | Thành viên của tô | các tiêu chuân do chủ. CÀ or Ron ; ~ ~ .^ | CDĐL tại địa (Điêu 87, | chức tập thê nộp đơn |sở hữu nhãn hiệu , ` , neki qa phương tương ứng va 121) chứng nhận thiệt lập ; 2 i đưa san pham đó ra thị trường Thời ; ; gian hiéu 10 năm kê từ ngày | 10 năm kê từ ngày nộp Vô thời hạn lực nộp đơn đơn (Điêu 93) Bảng: So sánh Nhãn hiệu tập thể, Nhãn hiệu chứng nhận va CDDL tại Việt Nam theo Luật sở hữu trí tuệ 2005 (Sửa doi bô sung 2009, 2019) Từ bảng trên có thể thấy một sự khác biệt quan trọng giữa nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập the và CDĐL đó là quyền sử dung. Các nhãn hiệu tập thé được sử dụng bởi các thành viên của tô chức đăng ký, nhãn hiệu chứng nhận thậm chí có thể 14 do bất kỳ ai đáp ứng các tiêu chuẩn định sẵn sử dụng, trong khi CDĐL thu hẹp quyền sử dụng trong nhóm tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm CDDL trực tiếp tai khu vực địa lý được xác định. Bởi vậy, việc xây dựng CDĐL là một ví dụ điển hình về “bước ngoặt chất lượng” mà chính phủ đặt trọng tâm hướng đến, vừa nâng cao và tôn vinh các giá trị, vừa góp phần bảo tồn giống địa phương và cũng vừa cải thiện thu nhập của người dân.