CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghiên cứu về chi Bằng lăng trên thế giới Chi Lagerstroemia được tác giả Linnaeus công bố đầu tiên vào năm 1759 dựa trên mẫu của loài Lagerstroemia indica trong cuốn “Systema Nature” với các đặc điểm là có 6 cánh hoa, 6 đài, ống đài hình chuông, nhị nhiều, với 6 nhị vòng ngoài dài hơn, cánh hoa dài hơn nhị; sau đó được các tác giả Koehne (1880, 1903), Srisuko (1969) và De Wilde và cộng sự (2013) tiếp tục nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi này [29, 36, 37, 39]. Koehne (1903), dựa trên đặc điểm của số lượng gờ dọc trên ống đài và sự hiện diện của lông trên bầu nhụy đã chia thành 4 nhánh: - Nhánh 1. Munchhausenia Koehne (được chia thành 2 phân nhánh: Adambea (Lam.) Koehne và Adambeola Koehne dựa trên chiều dài của đài, lông ở thùy đài mặt trong, số lương nhị) - Nhánh 3.
Trichocarpidium Koehne - Nhánh 4. Tuy nhiên, Furtado & Srisuko (1969), từ các nhánh và phân nhánh được đưa ra bởi Koehne (1903), các tác giả đã sắp xếp lại thành 3 nhánh với 7 phân nhánh. Trong đó, nhánh Velaga được coi là từ đồng nghĩa (synonym) của nhánh Sibia và nhánh Pterocalymma là một phân nhánh của nhánh Sibia. Tương tự, nhánh Munchhausenia và phân nhánh Adambeola được coi là từ đồng nghĩa của nhánh Adambea.
Đồng thời, 2 phân nhánh đã được thêm vào nhánh Adambea là: + Phân nhánh Microcarpidium: bao gồm các loài có hoa nhỏ và quả nhỏ, có 12-14 gân dọc trên bề mặt nụ hoa. + Phân nhánh Banglamea: Các thùy đài có lông tơ ở nửa trên bên trong. Và nhánh Trichocarpidium Koehne đã được chia thành các phân nhánh để phân biệt giữa các loài có thùy đài nhẵn (Phân nhánh Trichocarpidium) với những loài có lông tơ ở các thùy đài ở nửa trên bên trong (Phân nhánh Trichosepalum) [33]. 3 Sau đó, De Wilde & Duyfjes (2013) cũng đồng ý với quan điểm phân chia trên ngoại trừ nhánh Sibia DC.
Nhánh Sibia, được mô tả bởi Candolle (1826), ban đầu chỉ gồm 2 loài là Lagerstroemia indica và L. Nhưng theo quan điểm của De Wilde & Duyfjes (2013), loài L. indica, mẫu chuẩn của chi Bằng lăng có nhiều điểm khác biệt với các loài khác trong nhánh này ở đặc điểm quả không nhám. Từ đó, Hai tác giả đã chia chi thành 4 nhánh: - Lagerstroemia sect.
lagerstroemia, chỉ có 1 loài L. indica hoặc có thêm loài L. subcostata Koehne ở Trung Quốc, loài này có đặc điểm thùy đài có 12 gân dọc mờ.de Wilde & Duyfjes, nhánh mới có nụ hoa hình quả lê, ống đài 5-6 gờ dọc, mặt trong thùy đài không có lông, bầu nhẵn, quả nang không có vân mịn. Nhánh bao gồm 23 loài (trong đó 22 loài theo Furtado & Srisuko, 1969 và 1 loài mới L.
bao gồm 14 loài theo Furtado & Srisuko, 1969 và 1 loài mới L. trichocarpidium Koehne in Engl., nhánh này bao gồm 16 loài theo Furtado & Srisuko, 1969 và một loài mới L. Theo hệ thống của Armen Takhtajan (2009) [46], chi Lagerstroemia có vị trí như sau: Ngành (Phylum): Magnoliophyta - Mộc lan (Thực vật có hoa) Lớp (Class): Magnoliopsida - Mộc lan (Hai lá mầm) Phân lớp (Subclass): Dilleniidae - Sổ Liên bộ (Superorder): Myrtanae - Sim Bộ (Order): Myrtales - Sim Họ (Family): Lythraceae - Bằng lăng Chi (Genus): Lagerstroemia L. - Bằng lăng 4 Chi Bằng lăng có dạng cây gỗ hoặc cây bụi.
Lá thường mọc đối, xếp thành hai dãy, mép lá nguyên. Cụm hoa hình chùy ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa thường sặc sỡ; ống đài hình phễu hoặc hình chuông, nhẵn hoặc có lông, có gờ dọc nổi rõ hoặc mờ; thuỳ đài 6, đôi khi 7-9, hình trứng, gần nhọn; cánh hoa 6 hoặc hơn, đính ở đầu ống đài, có cuống, cánh hoa nhăn nheo; nhị nhiều, xếp gần đáy ống đài, chỉ nhị dài, mảnh, thò ra ngoài; bầu nhụy hình cầu hoặc elip, không cuống, 3-6 ô, vòi nhụy dài, uốn cong, đầu nhụy hình đầu, noãn rất nhiều, kiểu đính noãn gắn trụ. Quả nang nhiều hay ít đính trên đài, hình cầu hoặc elip, nhẵn hoặc có lông, 3-6 ô, khi khô nứt thành 3-6 mảnh.
Hạt nhiều, thon dài và có cánh [33]. Chi Bằng lăng bao gồm khoảng 60 loài và chủ yếu phân bố ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới đất thấp từ Ấn Độ đến Trung Quốc, khu vực Malesia và mở rộng đến bắc Úc. Trong đó, Trung Quốc (15 loài với 8 loài đặc hữu), Thái Lan (18 loài), khu vực Đông dương (21 loài), khu vực Malesia (14 loài) [28-30, 31, 42]. Trong đợt khảo sát thực vật năm 2006-2007, nhóm tác giả gồm Cui Hua Gu và cộng sự đã thu thập một số tiêu bản thuộc chi Lagerstroemia tại hạt Mengla, quận Xishuangbanna Thai, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Sau khi xem xét tài liệu (Furtado và Montien 1969, Fang và Zhang 1983, Zhou và cộng sự 2004, Qin và Graham 2007), nhóm tác giả phát hiện ra loài mới và đặt tên là: Lagerstroemia menglaensis C. Tính ngữ loài chỉ khu vực phát hiện ra loài mới là hạt Mengla. menglaensis có hình thái tương tự với L. Lau ở hình dạng lá, nhưng khác nhau ở màu sắc và hình dạng cánh hoa cũng như hình dạng của đoạn đài phụ.
Cánh hoa có màu trắng ở L. guilinensis và màu hồng ở L. menglaenis; hình dạng cánh hoa là hình bán nguyệt ở L. guilinensis và hình trứng ở L.
menglaensis và đoạn đài phụ dạng thẳng ở L. guilinensis và hình tam giác ở L. menglaensis cũng có hình thái tương tự loài L. venusta Wallich ex C.
Clarke ở đặc điểm cành, gân bên, hình dạng phiến lá, cụm hoa hình chùy, nhưng khác ở gân dọc của đài, đoạn đài phụ, màu sắc và hình dạng cánh hoa. Gân dọc của đài ở L. venusta có lông tơ màu xám và mờ trong khi ở L. menglaensis có lông tơ màu trắng và nổi rõ; đoạn đài phụ L.
venusta là hình delta trong khi L. 5 menglaensis có hình tam giác và cánh hoa của L. venusta có màu hồng tím và thuôn dài còn L. menglaensis có màu hồng và hình trứng [25].
Và năm 2015, Cui Hua Gu và cộng sự cũng đã công bố thêm một loài mới thuộc chi Bằng lăng khi nhóm tác giả thực hiện một cuộc điều tra khảo sát thực vật ở núi Đại Khánh, thành phố Sùng Tả, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc vào mùa hè năm 2013. Nhóm tác giả đã phát hiện ra một quần thể Bằng lăng đơn lẻ có cụm hoa mang các hoa mọc thành nhóm dày đặc. Có khoảng 15 cá thể trong quần thể này mang các đặc điểm khác biệt với những loài bằng lăng đã biết. Dựa trên các tài liệu về phân loại chi Bằng lăng (Koehne 1883, Furtado & Montien 1969, Fang & Zhang 1983, Zhou et al.
2004, Qin & Graham 2007), nhóm tác giả đã kết luận rằng các đặc điểm hình thái của quần thể trên là của một loài mới và đặt tên là Lagerstroemia densa C. Loài mới này có đặc điểm hình thái tương tự L. subcostata ở hình dạng lá nhưng khác nhau chủ yếu ở màu sắc cánh hoa, hình thái ống đài và lông, hình dạng của quả nang và cũng giống L. excelsa ở hình dạng thùy ống đài và cụm hoa, nhưng khác ở lá nhọn, nhẵn; cụm hoa hình chùm và đài nhẵn [26].
Nghiên cứu các tài liệu và so sánh với các loài trong chi Bằng Lăng trong cuốn “Flora of Thailand”, De Wilde và cộng sự đã công bố 3 loài và một thứ mới bao gồm: Lagerstroemia huamotensis W.de Wilde & Duyfjes có đặc điểm hình thái tương tự loài L. speciosa nhưng khác biệt ở lá nhỏ hình trứng, dài 4-9 cm, gân 5-7 ở mỗi bên, cụm hoa ngắn, không phân nhánh dài 2-5 cm, cuống quả giả dài 15-18 mm, quả nang, 4-5 mảnh; Lagerstroemia kratiensis W.de Wilde & Duyfjes có đặc điểm hình thái tương tự loài L. lecomtei nhưng khác biệt ở cụm hoa lớn dài 30-40 cm, mặt trong thùy đài không lông; Lagerstroemia vanosii W.de Wilde & Duyfjes có đặc điểm tương tự nhất với loài L. hexaptera nhưng khác biệt ở hoa nhỏ hơn, cánh hoa với cuống dài 3 mm, quả gần hình cầu nhỏ, đường kính khoảng 12 mm và Lagerstroemia duperreana Gagnep.de là thứ có đặc điểm hình thái khác biệt với loài là cây bụi hoặc bụi nhỏ cao 1,5-5 m, cụm hoa (cụm quả) nhỏ dài 5-10 cm với ít hoa hoặc ít quả, cuống quả giả dài 8-16 mm [29].
6 Nghiên cứu về hình thái giải phẫu thân và lá đã được thực hiện trên một số loài thuộc chi Bằng lăng. Giải phẫu lá của các loài thuộc chi Lagerstroemia cho thấy các đặc điểm khác nhau. Các tế bào biểu bì có hình bầu dục, hình vuông, hình chữ nhật rộng hoặc hẹp. Biểu bì chứa các tế bào sinh chất nhầy ở tất các cả các loài bằng lăng.
Nó cũng có ở các tế bào khác của phiến lá ở một số loài. Lớp hạ bì là một lớp mô mềm hoặc mô dày thường xuất hiện bên dưới bề mặt của biểu bì trên được thấy ở một số loài Bằng lăng.Vaikos đã thực hiện giải phẫu lá của 6 loài: L. speciosa cho thấy các lá có dạng lưng bụng và khí khổng chỉ ở mặt dưới lá (lát cắt ngang lá có cấu trúc thay đổi từ mặt trên tới mặt dưới, khí khổng chỉ có ở mặt dưới của lá). Các tế bào biểu bì mặt trên luôn luôn lớn hơn ở các loài.
Thịt lá được cấu tạo từ mô giậu và mô xốp. Mô giậu là một hoặc ba lớp gồm các tế bào có kích thước không bằng nhau. Hạ bì ghi nhận ở một loài, là mô mềm hoặc mô dày và một lớp thường xuất hiện bên dưới biểu bì trên được thấy ở các loài L. Bó mạch có hình vòng cung, phloem kép và được bao quanh bởi các tế bào mô cứng.
Lông được ghi nhận ở một số loài và tế bào bảo vệ khí khổng có gờ ngoài [23]. Giải phẫu lá của loài L. lanceolata cho thấy khí khổng dị bào với các lông đơn bào chủ yếu ở bề mặt biểu bì dưới của lá trong khi loài L. speciosa cũng có khí khổng dị bào nhưng không có lông ở bề mặt biểu bì và mô mềm có chứa các tinh thể hình sao [43, 47].
Hai loài nhập nội ở Nigeria bao gồm L. speciosa có đặc điểm giống nhau là lá có khí khổng chỉ ở mặt dưới, loại khí khổng kiểu hỗn bào, bó mạch hai bên, sự có mặt của các tinh thể đơn độc trong biểu bì lá và mô mềm, và vòng của biểu bì mô cứng nằm dưới các bó mạch. Sự phân bố của các gân dạng mạng lưới ở cả hai bề mặt của biểu bì lá, các bó mạch kín có sự hiện diện của các tế bào nhầy và chỉ số khí khổng là 25% giúp phân biệt L.