Chương 1: Trình bày tổng quan về vật liệu TiO2, ZnO, quá trình quang xúc tác, quang khử CO2, các phương pháp chế tạo vật liệu. Chương 2: Trình bày về các phương pháp thực nghiệm được sử dụng trong luận án như: các phương pháp chế tạo vật liệu; các phương pháp nghiên cứu hình thái học (ảnh SEM, HRTEM) và cấu trúc (giản đồ nhiễu xạ tia X, phổ tán sắc năng lượng tia X, 4 phổ hồng ngoại); các quá trình quang điện tử trong vật liệu bằng các phương pháp quang phổ hấp thụ và các phép đo quang điện hóa. Chương 3: Trình bày về kết quả nghiên cứu chế tạo dây nano Ag/TiO2 và vật liệu TiO2 đồng pha tạp N, Ta. Từ kết quả về vi hình thái và cấu trúc đã đưa ra đánh giá ảnh hưởng của điều kiện công nghệ lên đặc trưng quang, quang xúc tác và quang khử CO2 tạo khí metan của vật liệu.
Chương 4: Trình bày các kết quả nghiên cứu về vi hình thái, cấu trúc, tính chất quang của màng Au-Ag-ZnO; dây nano CuO-Ag-ZnO. Các đặc trưng điện, quang xúc tác, quang phân hủy Rhodamine B và Metyl da cam. Phần cuối cùng của luận án liệt kê danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án và danh mục các tài liệu tham khảo. Các kết quả mới đã đạt được của luận án: - Đã chế tạo thành công vật liệu xúc tác quang TiO2 dạng kích thước nm đồng biến tính với N và Ta có hiệu suất phân huỷ xanh methylene là 93% sau 180 phút chiếu sáng.
- Chế tạo thành công màng ZnO gắn với Au và Ag bằng kỹ thuật plassma đã làm tăng khả năng phân tách hạt tải điện và hoạt tính quang xúc tác của vật liệu. - Tổng hợp thành công cấu trúc dị thể dây nano ba thành phần CuO-Ag-ZnO thông qua hai giai đoạn mang lại hiệu quả cho hoạt tính quang xúc tác. Vật liệu quang xúc tác TiO2 và ZnO 1. Cấu trúc tinh thể vật liệu quang xúc tác TiO2 và ZnO 1.
Cấu trúc tinh thể vật liệu quang xúc tác TiO2 Titan (Ti) là kim loại chuyển tiếp, thuộc phân nhóm IVB, chu kỳ IV trong bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleep, cấu hình electron là [Ar]3d24s2 , có nguyên tử khối là 47,88 đvC và bán kính nguyên tử là 1,45 Å. Trong các hợp chất, trạng thái oxy hoá đặc trưng của Ti là +4 vì Ti4+ có cấu hình electron bền của khí trơ, và tồn tại chủ yếu trong tự nhiên. Ở nhiệt độ cao, Ti dễ dàng phản ứng với O2 theo phương trình Ti + O2 TiO2. Hình dạng và màu sắc của các dạng tinh thể (a) anatase, (b) rutile, (c) brookite và (d) bột TiO2.
Trong tự nhiên, TiO2 thường tồn tại ở 3 dạng tinh thể: rutile, anatase, brookite [17] có hình dạng và màu sắc tinh thể xác định như hình 1. Khi nghiền 3 dạng tinh thể của TiO2 thành bột sẽ chuyển sang dạng bột TiO2 màu trắng. Trong đó, hai dạng tinh thể pha rutile và anatase được nghiên cứu và sử dụng nhiều trong quang xúc tác, trong khi TiO2 pha brookite thì độ bền kém [18]. Ngoài ra, hai dạng tinh thể pha rutile và anatase này đều có cấu trúc tứ diện (tetragonal) và được xây dựng từ các đa diện phối trí bát diện (octahedra), trong mỗi bát diện có 1 ion Ti4+ nằm ở tâm liên kết với 6 ion O2- nằm ở 2 đỉnh và 4 góc.
Sự khác nhau giữa hai cấu trúc tinh thể này là do sự biến dạng của các bát diện và trật tự sắp xếp của các chuỗi bát diện (Hình 1. Cấu trúc ô mạng tinh thể của TiO2 pha anatase, rutile và brookite Trong ô cơ sở của tinh thể anatase có 4 ion Ti4+ và 7 ion O2-. Các bát diện oxit titan tiếp xúc cạnh với nhau tương ứng với mỗi bát diện tiếp giáp với 8 bát diện lân cận (4 bát diện chung cạnh và 4 bát diện chung góc). Trong ô cơ sở của tinh thể TiO2 pha rutile có 2 ion Ti4+ và 4 ion O2-.
Các bát diện này cũng tiếp xúc cạnh với nhau và sắp xếp thành các chuỗi đối xứng bậc 4, tương ứng với mỗi bát diện tiếp giáp với 10 bát diện lân cận (4 bát diện chung cạnh và 6 bát diện chung góc). Từ đó cho thấy tinh thể anatase khuyết nhiều Oxy hơn tinh thể rutile, do đó đã tạo ra các mức donor electron nông và chính các mức donor này đã ảnh hưởng đến một số tính chất vật lý của TiO2 ở hai dạng thù hình này khác nhau. Một số thông số vật lý của TiO2 pha anatase và rutile Tính chất Anatase TiO2 Rutile TiO2 Khối lượng phân tử 79,890 79,890 Cấu trúc tinh thể tetragonal tetragonal Nhóm điểm 4/mm 4/mm Nhóm không gian P42/mnm I41/amd a=b 4,5933 3,7710 Hằng số mạng (Å) c 2,9592 9,43 Mật độ khối lượng (g/cm3) 4,2743 3,895 Độ rộng vùng cấm (eV) 3,2 3,0 7 Ngoài ra, sự khác nhau về cấu trúc điện tử và cấu trúc vùng năng lượng của hai pha này cũng được giải thích là do khoảng cách Ti-Ti trong tinh thể TiO2 ở pha antase (3,79 Å và 3,04 Å) lớn hơn trong pha rutile (3,57 Å và 2,96 Å) còn khoảng cách Ti-O ở pha anatase (1,394 Å và 1,98 Å) thì nhỏ hơn trong pha rutile (1,949 Å và 1,98 Å). Chính sự khác nhau này đã dẫn đến sự khác nhau về tính chất vật lý, tính chất hóa học của vật liệu.
Thêm nữa, khi TiO2 được pha tạp bởi các nguyên tố kim loại khác nhau dẫn đến cấu trúc mạng tinh thể và độ rộng của vùng cấm cũng thay đổi. Giản đồ năng lượng độ rộng vùng cấm được trình bày trên Hình 1. Giản đồ mức năng lượng của TiO2 khi pha tạp: (a) TiO2, (b) Fe/TiO2, (c) Cu/TiO2, (d) Zr/TiO2, (e) Ce/TiO2, (f) V/TiO2, (g) W/TiO2 [19]) Như vậy, độ rộng vùng cấm và các mức năng lượng pha tạp nằm trong vùng cấm phụ thuộc vào các kim loại được pha tạp vào TiO2. Cấu trúc tinh thể vật liệu quang xúc tác bán dẫn ZnO II VI ZnO là vật liệu bán dẫn A B và có 3 dạng cấu trúc tinh thể: hexagonal wurtzite, zin blende, rocksalt (NaCl) (Hình 1.
Trong đó, cấu trúc lục giác wurtzite là cấu trúc phổ biến nhất do có cấu trúc tinh thể bền và ổn định nhiệt. Ngoài 8 ra, trong cấu trúc tinh thể wurtzite có một nguyên tử oxy liên kết với 4 nguyên tử kẽm và ngược lại. Nhóm đối xứng không gian tinh thể của cấu trúc wurtzite là C46v – p63mc. Ở nhiệt độ phòng, một số thông số vật lý cơ bản của ZnO như sau: khối lượng riêng 5,606 g/cm3, khối lượng mol phân tử 81,38 g/mol; hằng số mạng lần lượt là: a = b = 2,2458 Å; c = 5,2060 Å và thể tích một ô cơ sở có giá trị V = 47,623 Å.
Cấu trúc tinh thể của ZnO ở ba dạng cấu trúc (a) Rocksalt, (b) Zinc blende và (c) Wurtzite. Nguyên tử Zn và O được biểu thị bằng hình cầu màu xám và màu đen tương ứng. Ở áp suất khí quyển, ZnO bền với nhiệt độ, ở nhiệt độ khoảng 1000 oC ZnO bắt đầu mềm và khi ở nhiệt độ 1975 oC ZnO mới bắt đầu nóng chảy. Điều này được giải thích là do liên kết hoá học trong ZnO là hỗn hợp của liên kết cộng hoá trị (chiếm 33%) và liên kết ion(chiếm 67%) [20].
Trong ZnO, cấu hình electron của Zn là 4s2 và cấu hình electron của O là 2s22p6. Một số thông số vật lý của vật liệu ZnO được trình bày trên Bảng 1. Dưới điều kiện áp suất cao sẽ gây ra hiện tượng chuyển đổi từ cấu trúc Wurtzite sang cấu trúc Rocksalt (NaCl). Cấu trúc Zinc blende chỉ tồn tại ở nhiệt độ cao và có cấu trúc lập phương tâm khối.
Một số thông số vật lý cơ bản của ZnO ở cấu trúc tinh thể Wurtzite [20] Cấu trúc tinh thể ZnO Wurtzite Khối lượng mol phân tử 81,38 g/mol Hằng số mạng a = 3,2495 Å, c = 5.2069 Å Khối lượng riêng 5,605 g/cm3 Nhiệt độ nóng chảy Tm=2250oC Eg ở nhiệt độ phòng 3,37eV Năng lượng exciton nhiệt độ phòng Eb = 60meV 1. Tính chất vật lý của vật liệu nano TiO2 và ZnO 1. Một số tính chất vật lý của vật liệu TiO2 a. Tính chất nhiệt của vật liệu nano TiO2 Trong ba dạng tinh thế của TiO2 là anatase, rutile và brookite thì dạng tinh thể rutile có độ bền nhiệt cao.
Khi nung nóng sẽ gây ra sự chuyển đổi giữa 3 dạng tinh thể như sau: anatase chuyển thành dạng brookite rồi thành rutile; brookite chuyển thành anatase sau đó thành rutile; anatase chuyển thành rutile và brookite thành rutile. Bằng phương pháp quang phổ hấp thụ tia X, nhóm nghiên cứu Hwu và các cộng sự [21] đã chứng minh rằng cấu trúc tinh thể của các hạt nano TiO2 phụ thuộc vào phương pháp tổng hợp. Ở nhiệt độ cao (973 K), TiO2 ở pha anatase sẽ chuyển thành pha rutile. Tuy nhiên, đối với kích thước hạt nano rất nhỏ (<50 nm) thì cấu trúc TiO2 ở pha anatase có độ ổn định cao.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng dạng chiếm ưu thế của tinh thể TiO2 là pha anatase. Ngoài ra, trong một nghiên cứu của Banfield và Gribb [22] cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước hạt ảnh hưởng tới động học của quá trình chuyển pha và độ ổn định pha trong tinh thể nano TiO2, trong đó khi nhiệt độ khoảng từ 738 K đến 798 K thì tốc độ chuyển pha anatase thành pha rutile tăng đáng kể khi tính thể TiO2 phản ứng ở dạng rất mịn. Điều này được giải thích là do năng lượng bề mặt của rutile lớn dẫn đến tổng năng lượng tự do của rutile lớn hơn so với anatase khi kích thước tinh thể chỉ khoảng vài nm.Ye và cộng sự [23] đã nghiên cứu tính chất nhiệt của tinh thể nano TiO2 pha brookite. Kết quả cho thấy ở nhiệt độ dưới 1053 K thì quá trình phát triển hạt chậm và sự chuyển pha chậm từ 10 brookite sang anatase.
Tuy nhiên, khi ở nhiệt độ từ 1053 K tới 112 3K thì quá trình chuyển pha từ brookite sang anatase và từ anatase sang rutile diễn ra với tốc độ nhanh chóng cùng với sự phát triển kích thước hạt. Đồng thời, Kominami và cộng sự [24] cũng đã chứng minh rằng trong môi trường phản ứng hữu cơ, ở nhiệt độ khoảng 973 K bắt đầu sự chuyển pha trực tiếp từ tinh thể nano brookite sang rutile và chuyển pha hoàn toàn ở nhiệt độ 1173 K. Tính chất điện của vật liệu nano TiO2 TiO2 là một chất bán dẫn loại n, có tính chất điện phụ thuộc vào mức độ khuyết oxy. Sự khuyết oxy trong tinh thể tạo ra các mức donor electron nông và chính các mức donor nông này đã ảnh hưởng đến tính chất dẫn điện của TiO2.