MỞ ĐẦU Những năm gần đây, ý thức của cộng đồng về việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, thân thiện với môi trường ngày càng cao. Bởi những biến đổi khí hậu, bệnh dịch, thiên tai, đã và đang tác động xấu đến đời sống của chính con người. Đáp ứng nhu cầu đó, các công trình nghiên cứu cũng hướng đến tổng hợp những hợp chất từ chính nguồn sinh khối dồi dào trong tự nhiên. Và xenluloza - polyme tự nhiên đa dạng nhất, có trong hầu hết các loài thực vật là nguồn nguyên liệu tái tạo vô cùng tiềm năng cho tương lai.
Quá trình phân tách xenluloza từ thực vật đã được nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ là các quy trình nấu bột giấy như quy trình nấu sunfit cho nguyên liệu gỗ mềm, nấu sunfat cho nguyên liệu gỗ cứng có tiền xử lý. Tuy vậy, để phát triển thêm nữa các sản phẩm từ xenluloza, người ta bắt đầu tìm cách hòa tan xenluloza vào dung môi để xenluloza có thể tham gia phản ứng một cách dễ dàng hơn. Xenluloza có thể hòa tan trong dung môi được gọi là “xenluloza hòa tan” hay “bột xenluloza tan”. Trong thế kỷ XXI, thị trường tiêu thụ bột xenluloza tan tăng mạnh từ 3,2 triệu tấn năm 2000 lên đến 6,06 triệu tấn vào năm 2014.
Đến năm 2015, tổng sản lượng bột xenluloza tan là 7,5 triệu tấn và đã tăng thêm 3,2 triệu tấn vào đầu năm 2020 [16]. Tuy rằng sản lượng bột xenluloza tan tăng mạnh, đặc biệt ứng dụng làm sợi visco, chủ yếu được sản xuất ở Trung Quốc (62% tổng sản lượng quốc tế) nhưng lượng nguyên liệu ban đầu đi từ bông lại giảm do sản lượng bông tập trung cho y tế. Điều này chứng tỏ các nhà sản xuất đã và đang muốn hướng đến những nguồn xenluloza khác như gỗ, phi gỗ… để tránh sự cạnh tranh nguyên liệu với ngành dệt may. Ứng dụng quan trọng nhất của bột xenluloza tan hiện là dùng để sản xuất sợi visco phục vụ nhu cầu về trang phục của con người.
Mọi loại sản phẩm từ xenluloza hiện nay đều có thể sản xuất từ bột xenluloza tan với hiệu suất phản ứng tốt hơn. Do vậy, ngoài các quy trình nghiên cứu sản xuất bột xenluloza tan, người ta cũng tiến hành các nghiên cứu tiếp nối về ứng dụng của nó. Tuy nhiên, yêu cầu chất lượng của bột xenluloza tan cao hơn rất nhiều so với bột giấy hiện nay nên nếu chỉ sử dụng hóa chất để tinh chế thì sẽ rất tốn kém và độc hại với môi trường. Do vậy, nhiều nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ sinh học để giải quyết vấn đề này, thu được những kết quả rất khả quan và ngày càng được ứng dụng rộng rãi.
1 Do đó, đã lựa chọn đề tài luận văn “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học cho chế tạo xenluloza tan từ nguyên liệu gỗ keo” với mục đích nghiên cứu đưa ra được quy trình công nghệ ứng dụng sinh học trong chế tạo bột xenluloza tan từ gỗ keo. Kết quả nghiên cứu là cơ sở và tiền đề cho các nghiên cứu cũng như quá trình sản xuất thực tế xenluloza tan từ gỗ keo ứng dụng trong công nghiệp chế biến sinh khối. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về xenluloza tan 1.1 Khái quát chung Xenluloza có công thức phân tử là (C6H10O5)n với độ trùng hợp n có thể lên đến 5.000 trong tế bào thực vật. Xenluloza là polyme tự nhiên dồi dào nhất bởi nó là thành phần cấu tạo nên vách tế bào của hầu hết các loài thực vật.
Trong gỗ lá kim, xenluloza chiếm khoảng 41 - 49%, trong gỗ lá rộng nó chiếm 43 - 52% thể tích [17].1 Cấu tạo phân tử của xenluloza Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, xã hội, nhu cầu sử dụng các vật liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên, trong đó phải kể đến các sản phẩm từ nguồn nguyên liệu xenluloza. Một loạt các nghiên cứu về các sản phẩm đó có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, bột giấy (bột xenluloza) thông thường không đảm bảo được các yêu cầu cần thiết như các phản ứng biến tính xenluloza, lượng hóa chất sử dụng, năng lượng và thời gian phản ứng đều rất lớn. Điều này có thể giải thích bởi nguyên liệu ban đầu có hàm lượng α - xenluloza rất cao (>90%) nhưng do đặc điểm cấu trúc của xenluloza là dạng rắn, không tan trong nước và các dung môi hữu cơ thông thường, mạch phân tử có độ trùng hợp lớn và có nhiều liên kết hydro nội phân tử và ngoại phân tử [1], điều này tạo nên sự bền vững trong cấu trúc của xenluloza nhưng lại làm giảm khả năng tham gia phản ứng một cách triệt để.
Để khắc phục vấn đề này, các nhà khoa học đã đề xuất nhiều phương pháp tiền xử lý xenluloza trong bột giấy để xenluloza trong nguyên liệu vẫn có hàm lượng α - xenluloza cao nhưng độ trùng hợp thấp hơn, mật độ phân tử cách xa nhau hơn để làm giảm lượng liên kết hydro trong xenluloza, hàm lượng các chất khác như lignin, hemixenluloza,… thấp hơn và nghiên cứu những loại dung môi đặc biệt có thể phá vỡ liên kết hydro trong mạch xenluloza khiến nó gần như tan hoàn 3 toàn trong dung dịch hay còn gọi là xenluloza tan. Xenluloza tan tham gia các phản ứng biến tính dễ dàng và triệt để hơn xenluloza dạng rắn. Đây là đặc tính vô cùng quan trọng mà các nhà khoa học quan tâm bởi nó có thể góp phần tiết kiệm rất nhiều hóa chất và năng lượng đồng thời nâng cao hiệu suất phản ứng, chất lượng sản phẩm so với xenluloza thành phẩm hiện nay. Bột xenluloza tan hay còn gọi là bột giấy hòa tan (dissolving pulp) là bột giấy hóa học tẩy trắng có hàm lượng α - xenluloza cao.
Loại bột giấy này được sử dụng để hòa tan trong các dung môi thích hợp, chế biến ra sản phẩm như celophan, sợi nhân tạo. hoặc kết hợp với các loại hóa chất khác để tạo ra các dẫn xuất của xenluloza như axetat, nitrat.2 Tính chất của xenluloza tan Bột xenluloza tan được đặc trưng bởi những tính chất như hàm lượng α- xenluloza cao, hàm lượng hemixenluloza và lignin rất thấp, độ tro thấp và độ trùng hợp của xenluloza thấp (khoảng 400 đơn vị), đảm bảo sản phẩm thu được có thể hòa tan trong một số dung môi đề ion (ionic liquids) như 1 - ethyl - 2 - methyl - imidazolium chlode (EmimCl) với nguyên tắc của ionic liquid khi hòa tan xenluloza là các anion đóng vai trò như những hydrogen bonding donor (cho liên kết hydrogen) mạnh, làm phá vỡ những liên kết hydro nội phân tử của xenluloza [3]. Chất lượng bột xenluloza tan được thể hiện ở Bảng 1.1 Chất lượng bột xenluloza từ gỗ cứng và gỗ mềm Chất lượng TT Chỉ tiêu Đơn vị Gỗ cứng Gỗ mềm 1 Độ nhớt ml/g 250 ÷ 350 300 ÷ 400 2 Hàm lượng α - xenluloza % >91 >91 3 Hàm lượng hemixenluloza % ≤6 3÷6 4 Hàm lượng lignin % ≤ 0,1 ≤ 0,1 5 Độ tro % ≤ 0,5 ≤ 0,5 6 Độ trắng % ISO ≥ 88 ≥ 88 Ghi chú: (*) Sixta, H. Handbook of Pulp, Wiley-VCH, Verlag GMbH and Co, KgaA, Weinhem.3 Ứng dụng của xenluloza tan Bột xenluloza tan (dissolving pulp) là bột giấy hóa học tẩy trắng có hàm lượng α - xenluloza cao.
Loại bột giấy này được sử dụng để hòa tan trong các dung môi thích hợp, chế biến ra sản phẩm như cenlophan, sợi nhân tạo. hoặc kết hợp với các loại hóa chất khác để tạo ra các dẫn xuất của xenluloza như axetat, nitrat. Hơn nữa, bột xenluloza tan cũng có thể sử dụng trực tiếp trong sản xuất giấy thấm (dùng cho trang điểm), giấy lọc, nguyên liệu cho sản xuất bỉm… Xenluloza hòa tan trong dung dịch đã được Rayon nghiên cứu thành công từ năm 1981 để tạo ra loại xơ sợi được đặt theo tên ông là sợi Rayon hay sợi visco như ta biết ngày nay. Sợi visco được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp dệt may bởi những đặc tính tuyệt vời của xenluloza như thấm nước tốt, độ bền cơ lý cao và giữ bền màu nhuộm tốt.
Ngày nay, xenluloza hòa tan hay bột xenluloza tan không chỉ được nghiên cứu ứng dụng làm sợi visco mà đã có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng độc đáo được công bố [17] như sử dụng bột xenluloza tan làm sợi tổng hợp có tính kháng khuẩn, điều chế gel xenluloza axetat có độ tinh khiết cao có thể ứng dụng trong ngành y sinh, sản xuất vật liệu xenluloza axetat, tạo màng xenluloza axetat (CA)/ polyethyleneimine (PEI) có thể làm vải dệt hoặc ứng dụng trong công nghệ phim ảnh, chế tạo vật liệu aero xenluloza - xenluloza siêu xốp dùng trong công nghệ hấp phụ và xúc tác, hoặc làm ra những sản phẩm giấy đặc biệt như giấy bóng kính xenlofan. Một lĩnh vực mới nổi khác của xenlulo tan là in các vật thể ba chiều (3D). Thành công trong việc in 3D từ xenluloza và các dẫn xuất của chúng đã thúc đẩy tiến bộ trong các ứng dụng y sinh và dược phẩm tiềm năng như kỹ thuật mô, nuôi cấy tế bào, cố định các hoạt chất sinh học, phân phối thuốc, v. Công nghệ in 3D chuyển đổi bất kỳ tập dữ liệu thiết kế có hình dạng hoặc đặc điểm hình học phức tạp, với sự hỗ trợ của máy tính, thành sản phẩm vật lý 3D trong một khoảng thời gian ngắn.
Ưu điểm là chi phí thấp và dễ dàng sao chép sản phẩm, có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kỹ thuật y sinh, dược học, khoa học pháp y, điện tử và các ngành công nghiệp khác. Các ví dụ bao gồm chế tạo cấu trúc sợi nano 3D thông qua quay điện xenluloza axetat với các ứng dụng y tế tiềm năng và phát triển aerogel titanate 3D với xenluloza làm chất tổng hợp hấp phụ để lọc nước hiệu quả cao. Kỹ thuật in trực tiếp được phát triển để chế tạo các cấu trúc polyme sinh học xốp 3D trong khi Markstedt và cộng sự. đã tạo ra cấu trúc in 3D từ xenluloza hòa tan trong chất lỏng ion (1-ethyl-3-methylimidazolium acetate) sau đó được đông tụ 5 bằng dung môi (nước).
Gunasekera và cộng sự đã nghiên cứu hỗn hợp chất lỏng ion và đồng dung môi hữu cơ (DMS và 1-butanol) để tạo thành vật liệu cho in 3D xenluloza dựa trên phun mực. Ngoài ra, các vật liệu 3D dựa trên xenluloza axetat có độ bền cơ học cao và chức năng kháng khuẩn cũng đã được báo cáo gần đây [8].