Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu chế tạo vật liệu từ nền Fe có cấu trúc micro-nano ứng dụng trong y sinh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo vật liệu từ nền fe có cấu trúc micro nano, ứng dụng trong y sinh, mở ra hướng đi mới cho ngành vật liệu.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

163
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Từ tính và các vật liệu từ

Một số đại lượng từ cơ bản

Phân loại vật liệu từ

Vật liệu từ cứng và vật liệu từ mềm

Dị hướng từ

Hạt từ kích thước micro và nano mét

Tính chất từ của các phần tử sinh học

Kỹ thuật điều khiển các đối tượng kích thước micro và nano

Nguồn từ trường

Điều khiển các vi đối tượng bằng lực từ: bắt giữ

Điều khiển các vi đối tượng bằng lực từ: dẫn đường

1. CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

1.1. Phương pháp phún xạ

1.2. Các phương pháp chế tạo cấu trúc từ

1.3. Phương pháp phún xạ kết hợp kỹ thuật quang khắc

1.4. Phương pháp phún xạ trên đế đã được tạo hình

1.5. Phương pháp in từ

1.6. Phương pháp in phun

1.7. Các phương pháp khảo sát các tính chất đặc trưng

1.7.1. Nhiễu xạ tia X

1.7.2. Hiển thị cấu trúc từ

1.7.3. Kính hiển vi lực nguyên tử

1.7.4. Kính hiển vi điện tử quét

1.7.5. Từ kế mẫu rung

2. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MỘT SỐ MÀNG TỪ TÍNH VÀ VI CẤU TRÚC TỪ TRÊN CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP PHÚN XẠ

2.1. Điều kiện chế tạo

2.2. Cấu trúc tinh thể

2.3. Tính chất từ

2.4. Điều kiện chế tạo

2.5. Cấu trúc tinh thể và cấu trúc vi mô

2.6. Tính chất từ

2.7. Điều kiện chế tạo

2.8. Cấu trúc tinh thể và cấu trúc vi mô

2.9. Tính chất từ

2.10. Chế tạo vi cấu trúc từ

2.11. Ảnh hưởng của các thông số hình học tới từ trường bề mặt của các vi cấu trúc từ

2.12. Vi cấu trúc từ NdFeB trên đế Si đã tạo hình

2.13. Vi cấu trúc từ FePt trên đế Si

2.14. NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MỘT SỐ MÀNG TỪ TÍNH VÀ VI CẤU TRÚC TỪ BẰNG PHƯƠNG PHÁP IN

2.14.1. Vi cấu trúc từ NdFeB trên nền PDMS bằng phương pháp in từ

2.14.2. Màng từ và vi cấu trúc từ bằng phương pháp in phun

2.14.3. Chế tạo dung dịch in có từ tính

2.14.4. Màng từ và vi cấu trúc từ

2.15. THỬ NGHIỆM ỨNG DỤNG

2.15.1. Bắt giữ hạt từ

2.15.2. Bắt giữ phần tử sinh học

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chế tạo vật liệu từ nền Fe y sinh

Nghiên cứu chế tạo vật liệu từ nền Fe cho ứng dụng y sinh đang thu hút sự quan tâm lớn từ cộng đồng khoa học. Vật liệu này không chỉ có tính chất từ tính vượt trội mà còn có khả năng tương tác sinh học tốt. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng vật liệu từ nền Fe có thể được sử dụng trong nhiều ứng dụng y sinh, từ cảm biến sinh học đến các thiết bị điều trị. Việc phát triển các vật liệu này có thể mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực y học.

1.1. Đặc điểm nổi bật của vật liệu từ nền Fe

Vật liệu từ nền Fe có nhiều đặc điểm nổi bật như tính dị hướng từ lớn, độ cảm từ cao và cấu trúc micro-nano. Những đặc điểm này giúp vật liệu có khả năng hoạt động hiệu quả trong các ứng dụng y sinh, đặc biệt là trong việc phát hiện và điều trị bệnh.

1.2. Lịch sử phát triển vật liệu từ nền Fe trong y sinh

Lịch sử phát triển vật liệu từ nền Fe trong y sinh bắt đầu từ những năm 2000, khi các nhà nghiên cứu nhận ra tiềm năng của chúng trong việc phát triển các thiết bị y tế. Từ đó, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để cải thiện tính chất và khả năng ứng dụng của vật liệu này.

II. Thách thức trong nghiên cứu vật liệu từ nền Fe cho y sinh

Mặc dù vật liệu từ nền Fe có nhiều tiềm năng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình nghiên cứu và phát triển. Một trong những thách thức lớn nhất là việc đảm bảo tính tương thích sinh học của vật liệu. Ngoài ra, việc chế tạo các cấu trúc micro-nano phức tạp cũng đòi hỏi kỹ thuật cao và chi phí lớn.

2.1. Vấn đề tương thích sinh học của vật liệu

Tương thích sinh học là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của vật liệu trong ứng dụng y sinh. Các nghiên cứu cần tập trung vào việc đánh giá khả năng tương tác của vật liệu với tế bào và mô sống.

2.2. Khó khăn trong quy trình chế tạo

Quy trình chế tạo vật liệu từ nền Fe thường phức tạp và yêu cầu các thiết bị hiện đại. Việc tối ưu hóa quy trình này là cần thiết để giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất.

III. Phương pháp chế tạo vật liệu từ nền Fe cho ứng dụng y sinh

Có nhiều phương pháp chế tạo vật liệu từ nền Fe, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. Các phương pháp phổ biến bao gồm phún xạ, in từ và in phun. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp sẽ ảnh hưởng lớn đến tính chất của vật liệu cuối cùng.

3.1. Phương pháp phún xạ trong chế tạo vật liệu

Phương pháp phún xạ là một trong những kỹ thuật phổ biến nhất để chế tạo vật liệu từ nền Fe. Kỹ thuật này cho phép tạo ra các lớp mỏng với độ dày chính xác và tính chất đồng nhất.

3.2. Kỹ thuật in từ và ứng dụng của nó

Kỹ thuật in từ cho phép chế tạo các cấu trúc phức tạp với độ chính xác cao. Phương pháp này đang được nghiên cứu để phát triển các thiết bị y tế thông minh.

IV. Ứng dụng thực tiễn của vật liệu từ nền Fe trong y sinh

Vật liệu từ nền Fe đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực y sinh, từ cảm biến sinh học đến các thiết bị điều trị. Những ứng dụng này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả điều trị mà còn mở ra nhiều cơ hội mới trong nghiên cứu y học.

4.1. Cảm biến sinh học sử dụng vật liệu từ nền Fe

Cảm biến sinh học từ vật liệu từ nền Fe có khả năng phát hiện nhanh chóng và chính xác các dấu hiệu sinh học. Điều này giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị bệnh.

4.2. Thiết bị điều trị sử dụng vật liệu từ

Các thiết bị điều trị sử dụng vật liệu từ nền Fe đang được phát triển để điều trị các bệnh lý như ung thư. Những thiết bị này có khả năng tác động trực tiếp đến tế bào bệnh mà không gây tổn thương cho các tế bào khỏe mạnh.

V. Kết luận và tương lai của vật liệu từ nền Fe trong y sinh

Nghiên cứu chế tạo vật liệu từ nền Fe cho ứng dụng y sinh đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Với những tiềm năng và ứng dụng đa dạng, vật liệu này hứa hẹn sẽ đóng góp lớn vào sự tiến bộ của y học trong tương lai. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để giải quyết các thách thức hiện tại và tối ưu hóa quy trình chế tạo.

5.1. Tương lai của nghiên cứu vật liệu từ nền Fe

Tương lai của nghiên cứu vật liệu từ nền Fe trong y sinh rất hứa hẹn. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc cải thiện tính tương thích sinh học và phát triển các ứng dụng mới.

5.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Định hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ bao gồm việc phát triển các phương pháp chế tạo mới và tối ưu hóa các quy trình hiện tại để nâng cao hiệu quả và giảm chi phí sản xuất.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo vật liệu từ nền fe có cấu trúc micro nano định hướng ứng dụng trong y sinh luận án ts vật liệu và linh kiện nano

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm liên quan tới từ trường, vật liệu từ và các tính chất từ cơ bản. Cùng với đó là tổng quan về các vi hệ thống được sử dụng hiện nay để điều khiển các đối tượng kích thước micro-nano (hạt từ, hạt phi từ, tế bào sinh học). Từ tính và các vật liệu từ Từ tính là một trong những lĩnh vực quan trọng của khoa học và cuộc sống với lịch sử nghiên cứu lâu đời và có những bước phát triển mạnh mẽ.

Khái niệm “từ tính” xuất hiện trong hầu hết các thiết bị và hiện tượng thường ngày. Thuộc tính từ của một số vật liệu đã được biết tới trong nhiều thiên niên kỷ qua. Các tài liệu cho thấy các hiện tượng từ được tìm thấy đầu tiên ở Trung Quốc 4000 năm trước Công nguyên. Vật chất có từ tính được phát hiện đầu tiên vào thời gian này là đá nam châm magnetite, đây là một hợp chất của sắt và ôxy với công thức hóa học là Fe3O4.

Các ứng dụng đầu tiên của vật liệu từ là các la bàn chỉ hướng Bắc – Nam có khoảng 2500 năm trước Công nguyên, và sau này các la bàn hiện đại với kim la bàn nổi. Mối quan hệ giữa hướng của kim la bàn với từ trường trái đất đã được William Gilbert đề cập và giải thích trong sách chuyên khảo “De Magnete” của ông năm 1600. Nhiều năm sau, vào năm 1820, nhà vật lý người Đan Mạch, Hans Christian Oersted, đã quan sát thấy kim la bàn thay đổi hướng khi đặt gần các dòng điện. Mối liên hệ giữa điện và từ đã được thiết lập và những khám phá trong lĩnh vực điện từ này đã bắt đầu một cuộc hành trình dài cho đến ngày nay.

Vài tháng sau, André Marie Ampère, nhà vật lý và toán học người Pháp, làm các thí nghiệm cho thấy một dây dẫn mang dòng điện có thể xem như tương đương với một nam châm bằng cách cuộn nó thành một hình dạng nhất định. Michael Faraday, nhà hóa học và vật lý người Anh, sau đó đã nghiên cứu các hiện tượng điện từ và mối quan hệ của nó với ánh sáng. Các kết quả nghiên cứu của ông đã dẫn đến lý thuyết thống nhất của James Clerk Maxwell về điện, từ, quang. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Một số đại lượng từ cơ bản ⃗ (có đơn vị theo hệ CGS là G, theo hệ SI là T) tại một điểm là đại Cảm ứng từ 𝐵 lượng đặc trưng cho từ trường về phương diện tác dụng lực, phụ thuộc vào môi trường và có thể được tính toán từ định luật Ampere hoặc định luật Biot-Savart. Trong khi ⃗ (có đơn vị là G theo hệ CGS, là A/m theo hệ SI) tại một đó, cường độ từ trường 𝐻 điểm là đại lượng đặc trưng cho mức độ mạnh, yếu của từ trường và không phụ thuộc vào môi trường. ⃗ có chiều giống như Trong chân không hoặc không khí, cường độ từ trường 𝐻 ⃗ và có liên hệ bởi phương trình: chiều của cảm ứng từ 𝐵 ⃗ = 𝜇0 𝐻 𝐵 ⃗ (1. 1) với µ0 = 4×10-7 (không có đơn vị theo hệ CGS, là H/m theo hệ SI) là độ từ thẩm của chân không.

Xét về thuộc tính, mỗi vật liệu từ có một từ trường nội tại khi được đặt trong từ ⃗ , thể hiện qua từ độ 𝑀 trường ngoài 𝐻 ⃗⃗ (đây là đại lượng được đo bằng tổng các mômen từ bên trong vật liệu trên một đơn vị thể tích, có đơn vị theo hệ CGS là emu/cm3 hoặc ⃗⃗ được thay thế bằng vectơ phân cực từ 𝐽. Trong nhiều tài liệu, vectơ từ độ 𝑀 ⃗ sẽ bao gồm cả thành phần của từ trường ngoài 𝐻 Do đó cảm ứng từ 𝐵 ⃗ và từ độ 𝑀 ⃗⃗ bên trong vật liệu: ⃗ = 𝜇0 (𝐻 𝐵 ⃗ +𝑀 ⃗⃗ ) (1. 2) ⃗⃗ và cường độ từ trường 𝐻 Mối liên hệ giữa từ độ 𝑀 ⃗ có thể được biểu diễn theo phương trình sau: ⃗⃗ = 𝐻 𝑀 ⃗ (1. 3) Đại lượng , không có thứ nguyên, được gọi là độ cảm từ hay hệ số từ hóa của vật liệu.

Từ các phương trình trên, chúng ta có thể thấy: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. 4) Đại lượng µ được gọi là độ từ thẩm của vật liệu và đại lượng µr = 𝜇/𝜇0 không có thứ nguyên được gọi là độ từ thẩm tương đối của vật liệu so với chân không. Phân loại vật liệu từ Có nhiều cách phân loại vật liệu từ khác nhau, một trong số đó dựa trên độ cảm từ của vật liệu. Hệ số không có thứ nguyên này có thể dương, âm, tuyến tính hoặc phi tuyến và có thể suy ra từ đường cong M(H).

Dựa vào giá trị của độ cảm từ, các vật liệu từ thường được phân loại thành ba nhóm chính: vật liệu nghịch từ, vật liệu thuận từ và vật liệu sắt từ (hình 1. Đường cong từ hóa của vật liệu nghịch từ, thuận từ và sắt từ. - Vật liệu nghịch từ (diamagnetism) là vật liệu chỉ chứa các nguyên tử và phân tử không có mômen từ tĩnh. Khi được đặt trong từ trường ngoài, từ độ của các vật liệu này rất nhỏ và ngược hướng với từ trường ngoài.

Độ cảm từ có giá trị âm nằm trong khoảng từ -10-6 tới -10-4 và không thay đổi theo nhiệt độ. Tính nghịch từ tồn tại trong tất cả các loại vật liệu, ngay cả trong các loại vật liệu từ khác. Tác động của vật liệu nghịch từ yếu hơn nhiều so với các loại vật liệu khác và thường được bỏ qua. Một vài vật liệu nghịch từ phổ biến được sử dụng trong các vi hệ thống là nước (  = -9,06×10-6), silic ( = -14,0×10-6), cacbon ( = -16,0×10-6), đồng ( = -22,0×10-6).

Vật liệu tự nhiên có tính nghịch từ lớn nhất là bismuth ( = -175,0×10-6), chỉ xếp sau graphite pyrolytic tổng hợp có định hướng cao ( = -450,0×10-6) [36, 38]. Những vật 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liệu này là các đối tượng nghiên cứu liên quan tới hiệu ứng nâng nghịch từ (diamagnetic levitation). - Vật liệu thuận từ (paramagnetism) là vật liệu chứa các nguyên tử có mômen từ tĩnh. Khi không có từ trường ngoài, mômen từ của các nguyên tử không tương tác với nhau và có thể định hướng tự do theo bất kì phương nào, vì vậy mômen từ tổng cộng của vật liệu bằng 0.

Trong từ trường ngoài, toàn bộ mômen từ của vật liệu sẽ sắp xếp theo cùng một hướng với từ trường ngoài và tạo ra một mômen từ tổng khác 0, mômen từ tổng này sẽ biến mất khi từ trường ngoài được loại bỏ. Mômen từ tổng cao hơn ở nhiệt độ thấp và giảm dần khi nhiệt độ tăng do dao động nhiệt của các mômen từ. Đường cong M(H) của vật liệu thuận từ cũng trở nên tuyến tính hơn khi nhiệt độ giảm. Độ cảm từ của vật liệu thuận từ có giá trị trong khoảng 10-5 ÷ 10-3.

- Vật liệu sắt từ (ferromagnetism) giống vật liệu thuận từ ở chỗ có mômen từ tĩnh, nhưng các mômen từ này liên kết chặt chẽ với nhau. Các mômen từ nguyên tử liên kết và sắp xếp song song và cùng chiều với nhau ở trong một vùng không gian gọi là đômen. Nhiệt độ tăng trong các chất sắt từ cũng làm giảm mômen từ tổng của vật liệu. Các chất sắt từ mặc dù có từ độ tự phát nhưng mômen từ tổng cộng vẫn có thể bằng 0 vì mômen từ tổng của các đômen liên kết ngẫu nhiên với nhau và không có định hướng ưu tiên.

Khi vật liệu được đặt trong từ trường ngoài với cường độ tăng dần, các mômen từ nguyên tử sẽ được sắp xếp cùng hướng với từ trường ngoài cho tới khi đạt trạng thái bão hòa từ với giá trị từ độ MS. Khi vật liệu đạt được trạng thái bão hòa từ, nếu từ trường ngoài được loại bỏ thì trong vật liệu sắt từ vẫn tồn tại một mômen từ tổng do định hướng ưu tiên của các mômen thành phần sau khi được từ hóa, gọi là từ độ dư (MR). Lúc này, nếu từ trường ngoài được đưa vào theo hướng ngược lại và tăng dần cường độ để các mômen từ của vật liệu đạt trạng thái bão hòa một lần nữa thì từ độ của vật liệu là một hàm của từ trường ngoài và có đường về khác đường đi. Đồ thị sự phụ thuộc của từ độ vật liệu sắt từ vào từ trường ngoài gọi là đường cong từ trễ.

Đường cong từ trễ là một tính chất quan trọng của vật liệu sắt từ, gắn với nhiều ứng dụng mà một ứng dụng cơ bản và điển hình nhất là dùng để chế tạo nam châm. Đây là một loại dụng cụ được sử dụng để tác động lực hút hoặc lực 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đẩy lên các vật liệu từ và các nam châm khác. Mọi nam châm đều có ít nhất một cực bắc và một cực nam, chúng có hình dạng phong phú và có thể được làm từ nhiều loại vật liệu khác nhau. Vật liệu từ cứng và vật liệu từ mềm Các thuật ngữ “vật liệu từ cứng” và “vật liệu từ mềm” xuất phát từ sự khác biệt của các đường cong từ trễ của các vật liệu từ khác nhau.

Đầu tiên, chúng ta hãy xem lại cấu trúc từ của vật liệu sắt từ và sự phụ thuộc của chúng vào từ trường ngoài. Thông thường một vật liệu sắt từ chứa nhiều đômen từ định hướng ngẫu nhiên. Các đômen được tạo ra để giảm thiểu năng lượng trong vật liệu và chịu ảnh hưởng của các khuyết tật, lệch mạng… Vị trí chuyển tiếp giữa các đômen là các vùng có sự định hướng lại mômen từ, tức là khi dịch chuyển từ đômen này sang đômen khác, mômen từ sẽ thay đổi dần từ hướng này sang hướng khác. Felix Bloch, nhà vật lý người Thụy Sĩ, là người đầu tiên nghiên cứu các tính chất của vùng chuyển tiếp giữa các đômen từ, do đó thuật ngữ “vách Bloch” được sử dụng để mô tả chiều dày vùng chuyển tiếp (hình 1.

Các vách Bloch có năng lượng liên kết và có thể đáp ứng lại từ trường ngoài. Xét các vật liệu ban đầu được chia thành các đômen từ như được biểu diễn trong hình 1.2b, chúng ta có thể thấy khi được đặt trong từ trường ngoài, từ trường ngoài sẽ gây ra một mômen xoắn lên các mômen từ khiến cho các mômen từ có xu hướng quay theo hướng của từ trường ngoài. Các vách Bloch sẽ di dời và các đômen có mômen từ song song hoặc gần song song với từ trường ngoài sẽ lớn dần trong khi các đômen khác bị triệt tiêu khi từ trường ngoài tăng dần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ