Chương 1 1.1 CAO SU THIÊN NHIÊN ao su thiên nhiên là một chất có tính đàn hồi và tính bền, thu đƣợc từ mủ (latex) C của nhiều loại cây cao su, đặc biệt nhất là loại cây Hevea Brasiliensis. Năm 1875, nhà bác học ngƣời Pháp Bouchardat đã chứng minh cao su thiên nhiên là một hỗn hợp polymer isoprene (C5H8)n , những polymer này có mạch carbon rất dài với những nhánh ngang tác dụng nhƣ cái móc. Các mạch đó xoắn lẫn nhau, móc vào bằng những nhánh ngang mà không đứt khi kéo dãn, mạch carbon có xu hƣớng trở về trạng thái cũ sinh ra tính đàn hồi.1 LỊCH SỬ [8] Christophe Colomb trong hành trình thám hiểm châu Mỹ lần thứ hai (1493 – 1496), ông phát hiện ngƣời dân châu Mỹ đã biết sử dụng nhựa cây có tính đàn hồi để làm quả bóng thay vì dùng quả bóng làm bằng vải độn nhƣ lúc bấy giờ tại châu Âu. Năm 1615, Juan de Torquemada viết cuốn “De la monarquia indiana” nói về lợi ích & công dụng phổ cập của cao su.
Tuy nhiên, mãi đến hơn 1 thế kỷ sau, lợi ích và công dụng thật sự của cao su mới thật sự đƣợc biết đến nhờ công trình nghiên cứu của hai nhà bác học Pháp : Condamine và Fresneau. Năm 1761, hai nhà hóa học Pháp, Hérissant và Macquer, đã phát hiện ra khả năng hòa tan cao su bằng dung môi ether và tinh dầu thông. Năm 1791, Samuel Peal đƣa ra sáng chế ÁO MƢA. Năm 1818, Thomas Hancock (Anh) đã khám phá ra “quá trình nghiền hay cán dẻo cao su”.
Năm 1839, Charles Goodyear (Mỹ) phát minh “quá trình lƣu hóa cao su” với chất lƣu hóa là lƣu huỳnh. Quá trình này giúp cải thiện rõ rệt tính chất cơ lý của cao su sống. Sau đó, nhiều nhà khoa học đã phát hiện nhiều chất khác cũng có khả Chương 3 : Kết quả & bàn luận z 72 năng lƣu hóa cao su tƣơng tự lƣu huỳnh nhƣ : Chloride sunfur (Pakes – 1846), Pentasulfur antimoine (Burke – 1847), polynitrobenzen (Ostromislensky – 1912) … Có thể nói nhờ hai phát minh của Hancock (nghiền dẻo hóa) và của Goodyear (lƣu hóa) mà kỹ nghệ cao su phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tiêu thụ tăng nhiều đến nỗi con ngƣời phải thiết lập đồn điền cao su, xâm chiếm thuộc địa, bành trƣớng việc trồng cao su … Nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên tăng cao đƣa đến việc phát minh cao su nhân tạo và chế biến cao su tái sinh ngày nay. Công nghiệp cao su tiến triển nhanh cũng nhờ các cuộc khám phá tiếp nối sau cuộc khám phá ra sự lƣu hóa cao su, nhƣ khám phá chất xúc tiến, chất chống lão hóa, chất độn tăng cƣờng lực cao su, phát minh ra các phƣơng pháp chế biến cao su.
Cây cao su lần đầu tiên đƣợc du nhập vào Đông Dƣơng là do ông J.Louis Pierre đem trồng tại Thảo cầm viên Sài Gòn năm 1877. Sản lƣợng cao su của Việt Nam đứng hàng thứ 5 trên thế giới (sau Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ và Malaysia). Năm 2006, Việt Nam xuất khẩu mủ cao su đạt xấp xỉ 1,5 tỷ USD. Diện tích trồng cao su của Việt Nam hiện có hơn 0,5 triệu ha, tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và một số địa phƣơng thuộc khu vực Trung Bộ.1 Rừng cây cao su 1.2 TRẠNG THÁI THIÊN NHIÊN CỦA CAO SU [8] Chương 3 : Kết quả & bàn luận z 73 Cao su thiên nhiên sinh ra từ một số loại thực vật có khả năng tạo ra latex.
Chức năng này là điều kiện cần để có cao su, nhƣng không hẳn tất cả các loại cây tiết mủ đều có chứa cao su. Chức năng tạo ra latex trong các nhu mô thực vật biểu thị đặc tính qua sự hiện hữu của tế bào chuyên biệt gọi là tế bào latex, tiết ra một dịch gọi là latex. Tùy theo loại cây cao su, latex cũng có nhiều loại khác nhau : bản chất cấu tạo gồm dung dịch vô cơ và hữu cơ có chứa các tiểu cầu ở dạng nhũ tƣơng. Latex có trong nhu mô cây, tạo từ những tế bào sống gồm những nguyên sinh chất, nhân và các thành phần hiện diện.
Tế bào latex đƣợc một lớp nguyên sinh chất mỏng bao phủ, bao cả một không bào lớn là nơi mà nguyên sinh chất tiết ra latex. Tùy loại cây cao su, hệ thống latex đƣợc tạo từ tế bào cô lập hoặc từ mạch. Toàn bộ hệ thống latex đều kín, cần phải thực hiện rạch cạo để cho latex tiết chảy ra ngoài, công việc này gọi là “cạo mủ”.2 Cạo mủ cây cao su Latex cao su là một chất lỏng phức hợp, có thành phần và tính chất khác biệt nhau tùy theo loại. Theo nguyên tắc, ta có thể nói đó là một trạng thái nhũ tƣơng của các hạt tử cao su hay thể giao trạng trong một serum lỏng.
Tùy theo trƣờng hợp cao su có chứa : Chương 3 : Kết quả & bàn luận z 74 - Ở dạng dung dịch : nƣớc, các muối khoáng, acid, các muối hữu cơ, glucid, hợp chất phenolic, alcaloid ở trạng thái tự do hay trạng thái dung dịch muối. - Ở dạng dung dịch giả : các protein, phytosterol, chất màu, tannin, enzyme. - Ở dạng nhũ tƣơng : các amidon, lipid, tinh dầu, nhựa, sáp, polyterpenic. Cao su của những cây có mạch trong latex hiện hữu dƣới dạng hạt nhỏ hình cầu, hình quả tạ hay hình trái lê.
Những tiểu cầu cao su này đƣợc một lớp cực mỏng protein bao phủ bên ngoài, đảm bảo đƣợc độ ổn định cơ lý của latex. Cấu tạo của chúng đƣợc đa phân hóa ít hoặc nhiều là tùy theo loại, tuổi và cơ quan thực vật đƣợc khảo sát. Kích thƣớc chúng thay đổi từ 1/100 µm đến 3 µm (đƣờng kính). Trong trƣờng hợp cây cao su Hevea brasiliensis, hàm lƣợng cao su trong latex thay đổi từ 50% – 60% tùy theo mùa và trạng thái sinh lý của cây.
Chương 3 : Kết quả & bàn luận z 75 1.3 PHÂN LOẠI CÂY CAO SU [8] Trong thiên nhiên có rất nhiều cây cao su thuộc nhiều loại thực vật khác nhau. Chúng thích hợp với khí hậu vùng nhiệt đới, đặc biệt là miền Bắc Nam Mỹ, Brasil, Trung Mỹ, châu Phi từ Maroc đến Madagasca, Sri Lanka, miền Nam Ấn, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Nói chung, cây cao su trên thế giới thuộc vào 5 họ thực vật sau : Họ Euphorbiacéae gồm giống : Hevea, Manihot, Sapium và Euphorbia. Họ Moracéae gồm giống : Ficus và Castilloa.
Họ Apocynacéae gồm giống : Funtumia, Landolphia, Hancornia và Dyera. Họ Aslépiadacéae gồm giống : Asdepias và Cryptostegia grandiflosa. Họ Composées gồm giống : Kok-saghyz và Guayule. Trong số những giống cây cao su, giống tiêu biểu & quan trọng nhất là giống Hevea brasiliensis, nó cung cấp khoảng 95 – 97% lƣợng cao su thiên hiên trên thế giới.3 Giống cao su Hevea Brasiliensis Chương 3 : Kết quả & bàn luận z 76 1.4 THÀNH PHẦN LATEX CAO SU THIÊN NHIÊN [8] Latex là mủ cao su ở trạng thái phân tán nằm lơ lửng trong dung dịch chứa nhiều chất vô cơ và hữu cơ.
Hiện nay ta biết đƣợc latex tạo ra trong hệ thống mạch latex độc lập với hệ thống mạch nhựa thông thƣờng và chỉ ít về nguồn gốc sinh lý của nó. Các tác giả nhƣ Harries và Ditmar nghĩ rằng cao su là một chất sinh ra từ sự biến đổi glucid mà đặc biệt là các pentosan. Những tác giả khác thì thấy có sự liên quan giữa đồng hóa cao su và sự tiêu thụ amidon dự trữ. Prokofiev kết luận qua cuộc khảo sát của ông là sự tổng hợp cao su xảy ra trong mạch latex phát xuất từ hydratecarbon, theo lƣợc đồ nhƣ sau : monosaccharid – aceton – acetaldehyde – isoprene – cao su.
Sau này, từ những cuộc khảo cứu về cây cao su Guayule, J.Bonner đặt giả thiết là thành phần cao su thành lập theo tiến trình sau đây : acid acetic phản ứng với acetone sinh ra acid -methylcrotonic, acid này ngƣng tụ theo phản ứng khử cho ra chuỗi isoprene. Các khảo sát của Teas về cây cao su Hevea brasiliensis cũng đi tới xác minh chức năng đó của acid acetic. Ngoài hydrocarbon cao su ra, latex còn chứa nhiều thành phần khác nhƣ : protein, acid béo, dẫn xuất của acid béo, sterol, glucid, heterosid, enzyme, muối khoáng. Hàm lƣợng những chất cấu tạo nên latex thay đổi tùy theo các điều kiện về khí hậu, hoạt tính sinh lý và hiện trạng sống của cây cao su.
Các phân tích latex từ nhiều loại cây cao su khác nhau chỉ đƣa ra những con số phỏng chừng về thành phần latex : Thành phần % Khối lƣợng Cao su 30 – 40 % Nƣớc 52 – 70 % Protein 2–3% Acid béo và dẫn xuất 1–2% Glucid và heterosid Khoảng 1% Khoáng chất 0.1 Thành phần latex cao su thiên nhiên Chương 3 : Kết quả & bàn luận z 77 1.5 TÍNH CHẤT LATEX CAO SU THIÊN NHIÊN [8] a. Lý tính : Tỷ trọng : tỷ trọng latex đƣợc ƣớc định là 0,97. Đó là kết quả từ tỷ trọng cao su 0,92 và của serum là 1,02 Độ nhớt : độ nhớt latex tƣơi có 25% cao su là từ 12 – 15 centipoises, của latex đậm đặc hóa là từ 40 cP – 120 cP (độ nhớt của nƣớc là 1cP) Sức căng mặt ngoài : sức căng mặt ngoài của latex từ 30 – 40% cao su là vào khoảng 38 – 40 dynes / cm2 (sức căng mặt ngoài của nƣớc là 73 dynes/cm2) pH : trị số pH của latex có ảnh hƣởng quan trọng tới độ ổn định của latex. Latex tƣơi vừa chảy khỏi cây cao su có pH bằng hoặc thấp hơn 7.
Để trong vài giờ pH sẽ hạ xuống gần 6 do hoạt tính của vi khuẩn và latex sẽ bị đông lại. Ở các đồn điền cao su Việt Nam, ngƣời ta thƣờng nâng cao pH bằng cách thêm vào ammoniac để tránh latex bị đông đặc không hợp lúc, trƣớc khi xử lý nó tại xƣởng. Ammoniac có vai trò là chất sát trùng và là chất kiềm làm cho latex không bị ảnh hƣởng bởi điểm đẳng điện của nó. Trƣớc đây ngƣời ta đo pH latex theo phƣơng pháp đo màu, nhƣng hiện nay phƣơng pháp này không đƣợc dùng tới do độ đục của latex không thể cho kết quả chính xác nhƣ ý muốn, mà ngƣời ta dùng phƣơng pháp đo pH bằng điện cực thủy tinh để đo nhanh và dễ thấy hơn.
Tính dẫn điện : từ năm 1940, Van Gils là ngƣời đầu tiên đo độ dẫn điện của latex. Ông đã chứng minh độ dẫn điện của latex biến đổi nghịch theo hàm lƣợng cao su. Hiển nhiên chính serum là chất ảnh hƣởng trực tiếp đến trị số của độ dẫn điện, đặc biệt là do các hợp chất ion hóa mà nó chứa.