Chương I: Tổng quan về gốm áp điện mềm trên nền vật liệu chì. + Chương II: Nghiên cứu chế tạo gốm áp điện mềm Pb0.006O3 + Chương III: Ảnh hưởng của một số chế độ công nghệ đến tính chất của gốm Pb0. - Phần kết luận. TỔNG QUAN VỀ GỐM ÁP ĐIỆN MỀM TRÊN NỀN VẬT LIỆU CHÌ 1.
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VẬT LIỆU ÁP ĐIỆN Áp điện dựa trên hai hiệu ứng thuận và nghịch. Hiệu ứng áp điện thuận được anh em nhà Curie (Pierre và Jacques Curie) phát hiện trên tinh thể thạch anh vào năm 1880. Đó là khi tác dụng lực, trên bề mặt vật liệu này sẽ xuất hiện điện tích. Tinh thể bị căng hay nén sẽ tạo ra điện áp và tỷ lệ thuận với lực tác dụng.
Năm 1881, Gabriel Lippmann phát hiện hiệu ứng áp điện ngược: điện trường tác động - sinh ra biến dạng (dao động) trong vật liệu. Hai hiệu ứng này quá đơn giản, tưởng như không có ứng dụng nào và dường như bị quên lãng. Vào lúc 23 giờ 40 phút ngày 15 tháng 04 năm 1912, bi kịch của vụ đắm tàu Titanic xảy ra. Sau này các nhà khoa học cho rằng, nếu khi đó có được hệ thống cảm biến siêu âm phát hiện sớm tảng băng trôi trên biển từ xa, chắc chắn sẽ không có thảm họa này.
Chính sự kiện này được xem là một trong những lý do thúc đẩy công nghệ siêu âm phát triển và vật liệu áp điện đã được sử dụng. Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ đã dẫn đến sự đầu tư để đẩy nhanh phát triển công nghệ siêu âm nhằm phát hiện tàu ngầm U-Boats của Đức dưới biển. Hải quân Pháp đã hợp tác với Tiến sĩ Paul Langevin, giáo sư tại trường Cao đẳng Công nghiệp Vật lý và Hoá học ở Paris cùng nhiều người khác, bắt đầu thí nghiệm truyền tín hiệu siêu âm trên biển. Theo tính toán của Langevin, nếu chế tạo được đầu dò phát sóng siêu âm ở tần số 40 kHz, sẽ có khả năng phát hiện tàu ngầm địch ở khoảng cách 3- 4 km.
Để có được đầu dò phát sóng ở tần số này thì phải có một tinh thể thạch anh nguyên khối dày 6. Tuy nhiên, ở thời điểm đó không thể sản xuất được những tinh thể chất lượng tốt và có kích thước lớn như vậy. Để giải quyết bài toán khó này, Langevin phát minh ra một kiểu thiết kế biến tử bằng cách ghép những tinh thể thạch anh nhỏ có chiều dày 5 mm được kẹp bằng hai tấm thép ở hai đầu với e 5 chiều dày mỗi tấm 28. Tổng chiều dày của biến tử ghép là 6.
Kết quả, ông đã thành công trong việc thiết lập độ dày cho tần số cộng hưởng khoảng 40 kHz và phát hiện được tàu ngầm U-Boat ở khoảng cách 3000 m. Cấu trúc kiểu bánh kẹp này được gọi là “Biến tử Langevin” và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay [14]. Thạch anh có hệ số phẩm chất cơ học cao đáng kể (nghĩa là tổn hao thấp), song hệ số liên kết điện cơ, hệ số áp điện thấp và khó chế tạo kích thước lớn đã hạn chế ứng dụng nó trong lĩnh vực thủy âm. Một loạt các vật liệu khác có tính chất áp điện tốt hơn thạch anh đã được phát triển, điển hình là tinh thể muối Rochelle (NaKC4H4O6.
Tuy nhiên, vật liệu này có nhược điểm là rất dễ hỏng khi độ ẩm cao. Nhiều nỗ lực để phát hiện các vật liệu áp điện nhằm thay thế cho muối Rochelle với độ ổn định tốt hơn được tiếp tục cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tiếp sau đó, vật liệu áp điện Kali di-hydro phosphase (KH2PO4 hoặc KDP) được George Busch phát hiện năm 1935. Hay vật liệu KDP, ADP, EDT và DKT.
cũng đã được phát hiện. Nhưng hầu hết các vật liệu tinh thể này dễ bị hỏng trong môi trường có độ ẩm cao. Gốm Bari Titanat (BaTiO3, BT) được phát hiện độc lập bởi các nhà khoa học ở các quốc gia khác nhau: E. Gốm áp điện BT có hệ số liên kết điện cơ, hệ số áp điện cao và không tan trong nước, dễ chế tạo công nghiệp.
Chính vì vậy gốm áp điện trên cơ sở BaTiO3 trở thành vật liệu chủ lực trong các thiết bị thủy âm sử dụng ở Chiến tranh thế giới thứ 2. Tuy nhiên, do nhiệt độ chuyển pha sắt điện - thuận điện chỉ ở nhiệt độ 120oC nên gốm áp điện trên cơ sở BaTiO3 rất hạn chế ứng dụng trong các biến tử phát siêu âm công suất cao. Một lần nữa, lại đòi hỏi phải có vật liệu có hệ số áp điện cao hơn, nhiệt độ chuyển pha cao hơn, dễ chế tạo hơn,…thay thế cho BaTiO3 [18]. GỐM ÁP ĐIỆN PZT 1.1 Tổng quan về PZT Gốm sắt điện trên cơ sở dung dịch rắn của PbTiO3 và PbZrO3 (gọi tắt là PZT) là một vật liệu đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật khác nhau, cũng như đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
So với các hệ gốm 2 thành phần khác, gốm PZT được biết đến như một vật liệu có tính sắt điện, áp điện mạnh và nhiệt độ Curie cao (TC > 360oC). Bản chất sắt điện của loại vật liệu này đã được các nhà khoa học Nhật Bản phát hiện vào đầu những năm 1950. Giản đồ pha của hệ dung dịch rắn PZT cũng đã được Sawaguchi xây dựng năm 1953 nhưng không đề cập đến tính áp điện của nó. Năm 1954, Jaffe và các cộng sự phát hiện tính áp điện của gốm PZT.
Mười năm sau đó PZT đã trở thành sản phẩm chính của vật liệu gốm áp điện [23]. Cấu trúc Perovskite ABO3 [9] Khi thay thế các ion Ti4+ trong PbTiO3 bằng các ion Zr4+ với tỷ lệ phân tử x thì dung dịch rắn hai thành phần xPbTiO3-(1-x)PbZrO3 (0 x 100) được tạo thành. Đó là dung dịch rắn Titanate Ziconate Chì với cấu trúc perovskite ABO3 trong đó ion Pb2+ chiếm vị trí A, các ion Ti4+ và Zr4+ chiếm vị trí nút B một cách ngẫu nhiên và có công thức hoá học là Pb(Zr1-xTix)O3. Cấu trúc perovskite ABO3 được mô tả ở Hình 1.2 là giản đồ pha T-x của hệ giả lập hai thành phần PZT, trong đó đường TC là biên giới giữa hai pha sắt điện và pha thuận điện có cấu trúc lập phương.
Giản đồ pha của dung dịch rắn PZT [14] Biên pha phân chia vùng sắt điện thành hai miền: pha sắt điện có cấu trúc tứ giác (phía giàu Ti) và pha sắt điện có cấu trúc mặt thoi (phía giàu Zr) được gọi là biên pha hình thái học. Ở nhiệt độ phòng, biên pha nằm tại điểm có Zr/Ti = 53/47. Trong các miền ứng với Zr/Ti có giá trị 100/0 và 96/4, dung dịch rắn sẽ ứng với pha phản sắt điện trực thoi và không có hiệu ứng áp điện. Hiện nay, PZT là vật liệu gốm áp điện được sử dụng rộng rãi nhất.
Tùy thuộc vào mục đích ứng dụng, người ta có thể chọn các thành phần gốm PZT với các tỷ phần Zr/Ti thích ứng để nghiên cứu. Và tạo ra được các vật liệu với tính chất mong muốn, ngoài việc chọn các thành phần PZT với Zr/Ti thích hợp, phổ biến hơn là sử dụng kiểu loại pha tạp khác nhau để biến tính các tính chất của vật liệu nền. Mối liên hệ giữa nồng độ PbZrO3 với các hệ số liên kết và hệ số áp điện [14] Trong hơn 60 năm qua, một lượng lớn các chất phụ gia hoặc tạp chất đã được sử dụng để biến tính PZT nhằm thu được các vật liệu có tính chất đáp ứng cho các ứng dụng khác nhau. Tổng quan về PZT pha tạp 1.
Pha tạp tương đương Thay thế tương đương là sự thay thế các ion Pb2+, Ti4+ và Zr4+ bằng các ion khác có hoá trị và bán kính ion tương tự chúng. Các ion tạp đưa vào trong trường hợp này sẽ thay thế đúng vào chỗ các ion gốc ban đầu. Các ion kim loại kiềm như Mg 2+, Ca2+, Sr2+ và Ba2+ có bán kính ion 0.43Ao tương ứng thông thường sẽ thay vào vị trí của Pb 2+ (bán kính ion của nó là 1. Các kết quả thực nghiệm đã chỉ ra rằng, với việc thay thế tương đương: - Khi tạp đưa vào với nồng độ quá cao, tính chất của gốm giảm.
- Có hiện tượng dịch biên pha hình thái học về phía giàu Zr (phía pha mặt thoi). Ví dụ khi thay một lượng cỡ 12.5% nguyên tử Sr, biên pha hình thái học sẽ dịch từ 53/47 tới 56/44 [24]. Pha tạp không tương đương Trong trường hợp này, tạp thay thế có thể có hoá trị khác với hoá trị của ion muốn thay thế. Pha tạp mềm là khi pha tạp các ion như Sb3+, Bi3+, Th4+, Sb5+, W6+ và các ion đất hiếm khác,.
Hiệu ứng mềm hoá của các tạp mềm là việc tạo ra các chỗ khuyết Pb (Vacancy Pb) trong mạng. Nói chung, các ion có bán kính ion lớn như La3+, Nd3+, Sb3+, Bi3+, Th4+. sẽ chiếm ở vị trí A thay cho ion Pb2+. Các ion tạp mềm khi này có hoá trị lớn hơn Pb2+ và chúng đóng vai trò như là tạp đono.
Với các ion có bán kính nhỏ hơn, ví dụ như Nb 5+, Ta5+, Sb5+, W6+,. khi đưa vào PZT, chúng có thể chiếm ở vị trí B thay cho Zr4+ và Ti4+. Các ion này khi đưa vào PZT sẽ làm “mềm hóa” các tính chất áp điện, cụ thể: - Các hệ số đàn hồi sij, hằng số điện môi εmn, hệ số liên kết điện cơ kp và điện trở suất ρ tăng. - Trường kháng EC, Qm, Qe giảm.
Nguyên lý pha tạp mềm trong gốm PZT Các chỗ khuyết Pb (VPb) trong mạng, dưới tác động của điện trường hoặc ứng suất nhỏ các đômen dễ dàng dịch chuyển hơn. Trường kháng EC trong mẫu giảm. Hệ số phẩm chất Qm (liên quan đến nghịch đảo của tổn hao điện môi) giảm khi ma sát nội tăng, bởi vì lúc này cần phải tốn thêm năng lượng để dịch chuyển đômen và các quá trình chuyển động khác. Vậy khi phân cực mẫu để chuyển vật liệu thành áp điện thì quá trình giải phóng ứng suất trong gốm PZT pha tạp mềm e 10 cũng nhanh hơn trong gốm không pha tạp.
Điều này cho thấy sau khi phân cực các thông số vật liệu sẽ ổn định nhanh. Pha tạp cứng là khi các ion tạp cứng trong PZT bao gồm: K+, Na+… chiếm ở vị trí A và Fe2+, Fe3+, Co2+, Co3+, Mn2+, Ni2+, Mg2+, Al3+, Ga3+, In3+, Cr3+, Sc3+ chiếm ở vị trí B. Các tạp cứng đưa vào trong gốm đóng vai trò như một tạp axepto và các chỗ khuyết oxy (VO) sẽ được sinh ra để bù trừ điện tích.