Chương 1 TỔNG QUAN MỘT SỐ HỆ DẪN THUỐC 1. Hệ dẫn thuốc Hệ dẫn thuốc hay hệ phân phối thuốc được định nghĩa như “là một công thức hoặc thiết bị cho phép đưa một dược chất (thuốc) vào trong cơ thể, nâng cao hiệu quả và sự an toàn bằng cách kiểm soát tỷ lệ, thời gian và vị trí giải phóng thuốc trong cơ thể, quá trình này bao gồm cả sự quản lý thuốc, sự giải phóng các thành phần của thuốc và sự vận chuyển các thành phần của thuốc qua các lớp màng sinh học để đến vị trí mà thuốc tác động” [4]. Hệ dẫn thuốc có thể là một công thức với mục đích trị liệu hoặc một thiết bị được sử dụng để dẫn thuốc. Có nhiều cách để đưa thuốc vào cơ thể: bằng đường uống, đường tiêm, qua da, đường thở (mũi), ngoài ra còn có một số hình thức phân phối thuốc khác.
Hệ dẫn thuốc kích thước thông thường - Các thiết bị phân phối thuốc Một trong những cách phổ biến nhất để phân phối thuốc bằng các thiết bị là đặt thuốc vào trong các thiết bị phân phối thuốc và cấy vào mô bên trong cơ thể. Ngày nay với công nghệ hiện đại, việc chế tạo các thiết bị phân phối thuốc thích hợp và cấy vào mô bên trong cơ thể đã được ứng dụng rộng rãi và cũng đã mang lại những hiệu quả đáng khích lệ. Một số thiết bị được sử dụng để phân phối thuốc như: Cảm biến sinh học phân phối thuốc; Thiết bị phân phối thuốc dựa trên nền các vi dòng; Vi chip kiểm soát giải phóng thuốc; Các bơm và ống dẫn phân phối thuốc. - Các hệ phân phối thuốc hướng đích Đối với hệ phân phối thuốc hướng đích và được kiểm soát, một loạt các hệ chất mang được phát triển như: Các chất nền liên kết, kháng thể đơn dòng, các vi hạt hình cầu và liposome.
Ngoài ra, có nhiều hệ thống tinh vi dựa trên cơ chế phân tử, công nghệ nano, và liệu pháp phân phối gen cũng được phát triển. - Các hệ phân phối thuốc chuyên biệt 7 Khái niệm sử dụng các hạt phân phối thuốc đến các vị trí trong cơ thể đã được chọn lọc, từ đó sử dụng chúng như những tác nhân chẩn đoán trong y học để nghiên cứu hệ thống các tế bào khác nhau (gan, lá lách, xương, lympho), các hạt có kích thước từ 20 – 30 μm được sử dụng để phân phối thuốc hướng đích. Do kích thước nhỏ, chúng có thể được tiêm trực tiếp vào cơ thể, các hệ thống phân phối thuốc chuyên biệt có thể bao gồm thuốc và vật liệu lõi hoặc thuốc có thể được phân tán như chất nhũ tương bên trong vật liệu mang hoặc thuốc có thể được gói gọn bởi vật liệu mang. Hệ dẫn thuốc kích thước nano (HDTNN) - Tính ưu việt và tiềm năng của HDTNN + Tính ưu việt của HDTNN Việc chế tạo hệ thống nano chẩn đoán hoặc điều trị đòi hỏi phải kiểm soát nhiều thông số khác nhau để tối ưu hóa.
Những yếu tố này có thể bao gồm thành phần của các hợp phần, tính kỵ nước trên bề mặt hạt, điện tích bề mặt, kích thước hạt, mật độ của các phối tử nhắm đích, và nhiều kết hợp của chúng. Hiện nay, sự phối hợp một số chức năng vào một chất nền của hệ mang đang được quan tâm, ví dụ phương pháp tự lắp ráp cho việc chuẩn bị của các chất mang đa chức năng, theo đó các chất kỵ nước và các cấu trúc nano vô cơ được đồng thời gói gọn trong một chất mang phân phối thuốc [5]. Ngược lại với các hướng tạo phức hóa học, phương pháp tự lắp ráp cho phép tích hợp các vật liệu của thuộc tính khác nhau dựa trên nhiệt động lực không đặc hiệu [6]. Với mục đích này, các hạt nano polyme, hình thành từ sự tự lắp ráp của copolyme khối kỵ nước trong các dung môi chọn lọc là đặc biệt hữu ích.
Hạt nano được tổng hợp bằng phương pháp tự lắp ráp có thể được thiết kế để chứng minh đồng thời: i) kéo dài sự lưu thông trong máu; ii) đóng gói và bảo vệ của một loạt các tác nhân điều trị với tải trọng cao; iii) tối ưu hóa tổ hợp các tính chất vật lý của chất mang để tận dụng cả hai cơ chế nhắm đích chủ động và thụ động; iv) đáp ứng với các kích thích tại chỗ cho giải phóng thuốc kiểm soát; v) khả năng chịu đựng nhiều các gốc thuốc tương phản/chụp ảnh/quan sát bằng phương tiện của một loạt các 8 kỹ thuật hình ảnh đa phương thức [6], mô hình tổng hợp hạt nano bằng phương pháp tự lắp ghép được trình bày ở Hình 1. Sơ đồ hình thành hạt nano đa chức năng [7]. Trong thực tế, việc tổng hợp các hạt nano đa chức năng phức tạp thông qua các quá trình tự lắp ráp là khá khó khăn. Cho đến nay, vài ví dụ đã được công bố.
Nasongkla và cộng sự [6] đã mô tả quá trình tổng hợp của poly (ethylene glycol) -b-poly (D, L- lactide) hạt nano đóng gói Doxorubicin hóa trị liệu và hạt nano ôxit sắt siêu thuận từ. Tương tự như vậy, Yang và cộng sự [8] đã công bố việc tổng hợp poly (d, l-lactide- coglycolide) hạt nano đóng gói các vật liệu tương tự. Tuy nhiên, các kỹ thuật tổng hợp được sử dụng như bay hơi dung môi và nhũ tương hóa bị một số nhược điểm như: bề mặt thiếu ổn định và qua nhiều bước làm sạch để chuẩn bị các hạt có kích thước thống nhất [6, 8]. Ngoài ra, khả năng tải của các chất kỵ nước thường bị hạn chế bởi khả năng hòa tan hợp chất trong lõi hạt [9].
Mặt khác, các quá trình tổng hợp không cho phép phân tách độc lập kết cấu của các hợp phần, không đảm bảo sự phân bố đồng đều của các hoạt chất trong nội tại các hạt nano. Như vậy, các kỹ thuật lắp ráp mới cho phép linh hoạt, được điều chỉnh cho các ứng dụng cụ thể là rất cần thiết [9, 10]. + Tiềm năng của HDTNN Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ nano, các vật liệu, thiết bị và các HDTNN được chế tạo và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt các HDTNN được chế tạo trên nền công nghệ nano cũng không phải là một ngoại lệ. 9 Việc ứng dụng các hạt nano để phân phối và nhắm đích của dược phẩm, tác nhân điều trị và chẩn đoán đã nhận được sự quan tâm lớn trong những năm gần đây.
Các hạt nano có thể được xây dựng từ nhiều loại vật liệu và được sử dụng để đóng gói hoặc làm hòa tan các tác nhân hóa trị liệu để cải thiện khả năng phân phối thuốc trong cơ thể. Thế hệ tiếp theo của HDTNN được nghiên cứu hướng vào việc củng cố và thiết kế hệ thống đa chức năng, có thể tạo thuận lợi cho việc thực hiện trị liệu. Các hạt nano ghép có khả năng xác định các tế bào ác tính, xác định vị trí của chúng trong cơ thể bằng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, tiêu diệt tế bào ác tính và giảm thiểu tác dụng phụ thông qua việc nhắm đích chọn lọc và theo dõi điều trị. Các hệ thống phân phối có thể được thiết kế để cung cấp, giải phóng có kiểm soát hoặc giải phóng kích hoạt các phân tử điều trị.
Bề mặt hạt nano có thể được chức năng hóa bằng các phương pháp khác nhau để tạo thành các dạng khác nhau. Sự chức năng hóa bề mặt có thể được sử dụng để tăng thời gian lưu trú trong máu, giảm phân phối không đặc hiệu, và trong một số trường hợp, nhắm đích các mô hoặc các kháng nguyên bề mặt tế bào đích với một yếu tố gắn kết nhắm đích (peptide, aptamer, kháng thể/đoạn kháng thể, phân tử nhỏ). Ví dụ, hạt nano được tạo thành từ các polyme ưa nước, đáng chú ý nhất poly (ethylene glycol) (PEG), có thể được ghép, tạo phức, hoặc bị hấp thụ lên bề mặt của các hạt nano để tạo thành dạng vành, tạo nên sự ổn định về không gian và hình thành nên các thuộc tính "tàng hình" như ngăn chặn sự hấp thụ bề mặt của protein, qua đó làm tăng thời gian lưu thông trong dòng máu [11, 12]. Sự chức năng hóa có thể giải quyết các hạn chế lớn đối với các HDTNN như sự hấp thụ protein.
Nhờ sự chức năng hóa bề mặt các hệ phân phối thuốc nano copolyme có những thuộc tính hơn hẳn so với các hệ phân phối thuốc nano polyme như thời gian lưu thông trong máu lâu hơn, tránh được sự hấp thụ bề mặt do các protein huyết tương gây ra, tránh được sự thủy phân do các enzyme. Mặt khác khi được chức năng hóa bề mặt các hạt nano copolyme có thể gắn với các yếu tố hướng đích như các kháng thể, protein, aptamer hoặc các phối tử tự nhiên như Folat để tăng khả năng bám đích của 10 các hệ nano copolyme mang thuốc trong chẩn đoán và điều trị ung thư, qua đó tăng khả năng và hiệu quả điều trị của thuốc [13]. - Cấu trúc và chức năng HDTNN + Kết cấu theo chức năng Hệ dẫn thuốc kích thước nano kết cấu lõi-vỏ với hạt nano copolyme được xác định bởi hình thái và thành phần polyme của chúng (trong cấu trúc lõi-vỏ của các copolyme), được trình bày ở Hình 1. Trong cấu trúc này, tác nhân chẩn đoán và điều trị thường được liên hợp với các bề mặt của các hạt nano hoặc đóng gói và bảo vệ bên trong lõi, tạo thành HDTNN kết cấu lõi-vỏ với phần lõi là các tác nhân theo dõi, chẩn đoán và điều trị như các phân tử thuốc, các hạt nano từ, hạt nano vàng.
Trong khi đó, phần vỏ là các polyme giúp tăng khả năng và thời gian lưu thông máu, tăng khả năng hướng đích, giảm tác dụng phụ, nâng cao khả năng theo dõi, chẩn đoán bằng hình ảnh và tăng hiệu quả điều trị. Các loại hạt nano nền polyme cấu trúc lõi-vỏ đặc trưng cho phân phối thuốc [7]. Các hệ dẫn thuốc nano được thiết kế để tích hợp các thành phần điều trị, chẩn đoán hoặc theo dõi để đạt được khả năng nhắm đích mạnh hơn. Hệ dẫn thuốc nano đa chức năng (Hình 1.3) với các thành phần vật liệu đặc trưng, phần lõi là các tác nhân theo dõi, chẩn đoán và điều trị như các phân tử thuốc, các hạt 11 nano từ, hạt nano vàng,… được bao bọc bởi các polyme phân hủy sinh học như poly (styrene), poly (methyl methacrylate), poly (hydrôxybutyrate), poly (D, L-lactide), poly (L-lactide) và poly (D, L-lactide- đồng glycolide).
Trong khi đó, phần vỏ là các polyme tương thích sinh học như polyethylene glycol (PEG) giúp tăng khả năng và thời gian lưu thông máu, tăng khả năng hướng đích [12]. Sơ đồ hệ dẫn thuốc nano đa chức năng [7].