Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vi khuẩn Streptococcus suis và bệnh do chúng gây ra ở lợn 1. Đặc điểm của vi khuẩn Streptococcus suis * Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy Vi khuẩn S. suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ Lactobacillales, lớp Bacilli.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2005) [4], Streptococcus là vi khuẩn Gram dương, hình cầu hoặc hình trứng đường kính nhỏ hơn 1μm, chúng thường đứng riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi ngắn như chuỗi hạt, có độ dài ngắn không đều nhau. Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường. Vi khuẩn bắt màu dễ dàng với một số loại thuốc nhuộm thông thường, thuộc nhóm vi khuẩn Gram dương, phát triển trong điều kiện hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện và không di động.
Vi khuẩn không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp mô. Sự hình thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các mô hoặc phát triển trong các môi trường nuôi cấy có chứa huyết thanh. Vi khuẩn được nuôi cấy sau 18 giờ chủ yếu là có dạng hình cầu, kích thước 0,5 - 1 μm, đứng thành dạng chuỗi 5-10 tế bào. Trong canh trùng già, sau 30 giờ nuôi cấy, vi khuẩn có thể thay đổi tính chất bắt màu, chuỗi cũng thấy dài hơn.
Đặc biệt, khi nuôi cấy trong môi trường dạng lỏng, hình thái các chuỗi được nhìn thấy rõ nhất. Khi làm tiêu bản trực tiếp từ bệnh phẩm lấy từ động vật, có thể quan sát thấy vi khuẩn có hình cầu, nhưng ở môi trường phân lập ban đầu, có thể nhầm với trực khuẩn ngắn. suis là những vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, gây bệnh thích hợp ở nhiệt độ 37 0 C và phát triển tốt trên nhiều loại môi trường như: n 4 Môi trường nước thịt: Vi khuẩn S. suis hình thành hạt hoặc những bông, rồi lắng xuống đáy ống.
Sau 2 giờ nuôi cấy môi trường trong, đáy ống có cặn. Môi trường thạch thường: Vi khuẩn S. suis hình thành khuẩn lạc dạng S, khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám. Trên môi trường đặc: Có thể quan sát thấy khuẩn lạc sau 24 giờ nuôi cấy với kích thước khoảng 1 - 2 mm.
Sau 72 giờ thì kích thước khuẩn lạc lớn nhất, có thể đạt tới 3 - 4 mm. Nếu được nuôi trong điều kiện có 5 - 10% CO2 thì khuẩn lạc sẽ phát triển nhanh hơn và rộng hơn. Khuẩn lạc thường tạo chất nhầy mạnh, độ nhầy càng rõ và tăng nếu như vi khuẩn được nuôi cấy vài giờ vào môi trường 32 nước thịt có bổ sung huyết thanh trước khi cấy sang môi trường đặc hoặc thạch máu. Dạng khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khô hơn trên môi trường có bổ sung dinh dưỡng.
suis mọc trên các môi trường nuôi cấy giàu chất dinh dưỡng như môi trường thạch máu, thạch Chocolate, nhưng mọc tốt nhất trên môi trường Columbia, nhiệt độ thích hợp 370C, nhưng có thể phát triển được ở một khoảng nhiệt độ rất rộng 10 – 450C, pH thích hợp 7–7,2. Sau 24 giờ, ở 370C, vi khuẩn mọc tạo những khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bờ đều, màu xám hoặc trong suốt, hơi nhầy. Trên môi trường thạch máu: Vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tròn, gọn, hơi vồng, sáng trắng, mịn, dung huyết sau 24 giờ nuôi cấy. Có thể quan sát thấy các kiểu dung huyết gồm: Dung huyết kiểu α: vùng dung huyết xung quanh khuẩn lạc thường có màu xanh (dung huyết từng phần hay dung huyết không hoàn toàn) Dung huyết kiểu β: Bao quanh khuẩn lạc là một vùng tan máu hoàn toàn trong suốt, có bờ rõ ràng do Hemoglobin được phân huỷ hoàn toàn.
Dung huyết kiểu γ (hay còn gọi là không dung huyết): không làm biến đổi thạch máu. n 5 Trịnh Phú Ngọc và cs. (1999) [6]; Nguyễn Như Thanh và cs. (2001) [19]; Phạm Sỹ Lăng và cs.
(2005) [4] khi nghiên cứu đặc tính sinh vật học của vi khuẩn Streptococcus suis cho biết trên môi trường MacConkey, vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim. Trịnh Phú Ngọc và cs. (1999) [6] đã tiến hành nghiên cứu tính chất vi khuẩn học của các chủng Streptococcus phân lập từ lợn ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam và cho kết quả cho thấy: Trên môi trường thạch thường: khuẩn lạc mọc yếu, khuẩn lạc trắng, trong, tròn. Trên thạch máu: mọc tốt, khuẩn lạc trắng, hơi lồi, tròn, gọn, mịn, dung huyết.
Trên thạch huyết thanh: khuẩn lạc nhỏ, trắng, hơi lồi, trong mịn, gọn, có ánh xanh trong. Trên thạch Edward: khuẩn lạc nhỏ mịn, ướt, trò gọn, trong, mặt hơi lồi, màu hơi tím. Trên thạch Shapman: không mọc màu đỏ tươi. Trên nước thịt 5% huyết thanh: mọc tốt, hơi đục.
* Đặc tính sinh hóa Vi khuẩn S. suis có khả năng lên men đường: glucose, lactose, succrose, inulin, trehaloza, maltoza, fructoza. Vi khuẩn không có khả năng lên men đường: ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose. Các phản ứng sinh hóa khác: catalase âm tính, oxidase âm tính, indol âm tính, coagulase âm tính (Trịnh Phú Ngọc.
* Sức đề kháng Theo Trịnh Phú Ngọc và cs. suis có sức đề kháng kém với nhiệt độ và hoá chất. Trong phân, ở 00C vi khuẩn có thể sống 104 ngày, ở 90C vi khuẩn sống được 10 ngày, ở 22- 250C vi khuẩn có thể sống được 8 ngày. Ở 700C vi khuẩn chết trong 35- 40 phút, ở 1000C vi khuẩn chết trong 1 phút; vi khuẩn sống trong bụi 25 ngày ở 90C nhưng không phân lập được vi khuẩn ở bụi trong nhiệt độ phòng (18- 200C)/ 24 giờ.
Vi khuẩn bị diệt dưới ánh sáng mặt trời sau 40 - 60 phút. n 6 Lê Văn Tạo (2005) [16] cho biết S. suis dễ bị diệt bởi nhiều chất sát trùng như phenol, iod, hypochlorid, acid phenic 3 - 5% diệt vi khuẩn trong vòng 3- 15 phút, formol 1% diệt vi khuẩn trong vòng 60 phút, cồn 700 diệt vi khuẩn trong vòng 30 phút. suis type 2 còn được tìm thấy trên xác những con lợn đã thối rữa trong các trang trại với thời gian tồn tại là trong 6 tuần ở 4oC và 12 ngày ở 22-25oC.
Đây chính là nguồn lây nhiễm bệnh quan trọng một cách gián tiếp thông qua các động vật truyền bệnh trung gian như chim, mèo, chuột hoặc chó (Clifton Hadley và cs. Vi khuẩn tồn tại lâu trong đờm, chất bài xuất có protein. Tuy nhiên, vi khuẩn có thể tồn tại ở trên hạch amidan lợn mang trùng hơn 1 năm, ngay khi các yếu tố thực bào, kháng thể và bổ sung kháng sinh phù hợp trong thức ăn. * Cấu trúc kháng nguyên Streptococcus có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp.
Có rất nhiều kháng nguyên đã được tìm thấy: Kháng nguyên polyozit hay kháng nguyên “C” do Lancefield phát hiện năm 1928, đây là một kháng nguyên thân. Kháng nguyên này có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định độc lực của S. Thành phần kháng nguyên thân có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến tính độc lực của vi khuẩn Streptococcus và nó nằm ở thành vi khuẩn (Cell wall). Thành tế bào vi khuẩn S.
suis gồm 3 lớp: lớp ngoài có chứa acid và protein gọi là kháng nguyên M, T, R,., Map (M - Assotated Protein), SOF (Serua Oparty Factor), phía ngoài cùng của lớp này thường chứa các fimbriae; lớp giữa chứa polysaccharide; lớp trong cùng là peptidoglycan. Những Streptococcus khác nhau có cấu tạo chất “C” khác nhau, dựa vào đó người ta chia Streptococcus thành các nhóm: A, B, C, D,., R, trong đó Streptococcus type A, B thuộc loại tan máu type β. Kháng nguyên protein M là yếu tố độc lực chống lại quá trình thực bào và là kháng nguyên đặc hiệu của Streptococcus type A. Người ta đã xác định có khoảng 42 type trong đó có 12 type quan trọng và thường hay gây bệnh.
n 7 Các mucopeptit: làm cho vách tế bào của Streptococcus cứng rắn và còn có khả năng gây độc. Kháng nguyên bám dính: Vai trò của kháng nguyên bám dính của S. suis còn chưa được biết đến một cách rõ ràng, nhưng có ý kiến cho rằng fimbriae có lipoteibic acid (LTA) giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biểu mô và ở tế bào lympho đa nhân có điểm tiếp nhận (receptor) tương ứng với LTA trong quá trình thực khuẩn (Nguyễn Như Thanh và cs. suis là một trong số ít các loại vi khuẩn Gram dương có mang cấu trúc này.
So với các loại vi khuẩn khác thì kháng nguyên bám dính của S. suis có cấu trúc mỏng, ngắn, đường kính khoảng 2ηm, và dài có khi tới 200 ηm (Jacques và cs. Hiện nay vi khuẩn S. suis có 20 nhóm huyết thanh và 25 serotype khác nhau.
Phần lớn các vi khuẩn gây bệnh trên lợn đều thuộc type 1 và type 2. suis thuộc nhóm D có 9 serotype; nhóm R và nhóm S có 2 serotype gây ra các thể bệnh viêm họng, nhiễm trùng huyết và viêm khớp ở lợn. suis thuộc nhóm E có 6 serotype, trong đó serotye 2, 4, 1, 6, 7 gây các thể bệnh apxe hạch và các nội quan khác. suis thuộc nhóm L và C gồm 11 serotype gây các thể bệnh nhiễm trùng huyết, viêm nội tâm mạc và viêm đa khớp ở lợn.
Các chủng thuộc các serotype gây ra các thể bệnh khác nhau. Thậm chí các chủng vi khuẩn thuộc cùng một serotype cũng có thể gây ra các thể bệnh khác nhau do vùng địa lý mà chúng phân bố. Một số serotype không có độc lực và có thể được phân lập từ lợn khỏe mạnh, không có triệu chứng lâm sàng như các serotype 17; 18; 19 và 21 (Higgins và Gottschalk, 2002) [40]. Đỗ Ngọc Thúy và cs.
(2009) [23] khi xác định serotype trong 211 chủng S. suis phân lập được từ lợn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam cho biết số chủng thuộc serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 14/211 chủng (6,6%); serotype 9 có 10/211 chủng (4,7%); serotype 9, 31, 32 có 7/211 chủng (3,3%); các serotype 7, serotype 17 và serotype 21 có tỷ lệ tương đương là 1,4%; serotype 8 chiếm 0,9%. n 8 * Các yếu tố độc lực của vi khuẩn S. suis Những hiểu biết về các yếu tố độc lực của vi khuẩn S.
suis còn rất hạn chế. Phần lớn những nghiên cứu được tiến hành với các chủng thuộc serotype 2. Các nhà khoa học đều có chung quan điểm: có sự tồn tại của chủng độc và không độc của vi khuẩn S. Thành phần polysaccharide của giáp mô (capsular polysaccharide - CPS) được chứng minh là yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn này vì các chủng đột biến không có giáp mô đều thể hiện là không có độc tính và nhanh chóng bị loại bỏ khỏi hệ thống tuần hoàn của lợn và chuột trong các thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm.
Tuy vậy không phải tất cả các chủng có giáp mô đều là chủng độc.