phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 4 chƣơng. Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng Chƣơng 2: Mô hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế Thanh Hóa 4 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ ẢN VỀ CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Luật thuế Giá trị gia tăng đã đƣợc quốc hội khóa IX thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Sau hơn 20 năm thực hiện, trải qua nhiều lần điều chỉnh, sửa đổi và bổ sung, Luật thuế giá trị gia tăng đã đi vào cuộc sồng, phát huy tác dụng tích cực trong khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh. Ngày 26 tháng 11 năm 2006 luật Quản lý thuế đƣợc Quốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm 2007, cho đến nay đã có nhiều văn bản thay đổi và ngày 13 tháng 6 năm 2019 Quốc hội đã ban hành luật Quản lý thuế mới nhất có hiệu lực 01 tháng 07 năm 2020.
Tuy nhiên, việc triển khai quản lý thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam nói chung và ở các địa phƣơng nói riêng luôn có những khó khăn, vƣớng mắc và những tồn tại hạn chế nhất định. Chính vì vậy, vấn đề nghiên cứu về lĩnh vực quản lý thuế giá trị gia tăng luôn đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Có khá nhiều các công trình nghiên cứu về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong nƣớc chủ yếu tập chung vào nghiên cứu giải pháp hoàn thiện hoặc nâng cao công tác quản lý thuế giá trị gia tăng dựa trên đánh giá thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng của đơn vị.
Một số công trình nghiên cứu về hoàn thiện hoặc nâng quản lý thuế giá trị gia tăng nhƣ sau: Nguyễn Thị Mai Phƣơng (2003) [11] đề tài khoa học cấp Viện của Viện Khoa học Tài chính, “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống thu thuế ở Việt Nam”. Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã khái quát thực trạng công tác quản lý thuế Việt Nam và đánh giá thực trạng công tác Quản lý thuế trên 2 góc độ: Thực trạng công tác tổ chức bộ máy quản lý và thực trong công tác thu thuế. Từ phân tích kinh nghiệm Quản lý thuế của một số nƣớc trên thế giới và thực trạng của Việt Nam, đề tài rút ra một số bài học 5 kinh nghiệm và nêu ra các giải pháp phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu ở bối cảnh 2003, đến giai đoạn này có nhiều thay đổi so với năm 2003.
Đồng thời nghiên cứu ở tầm vĩ mô chứ chƣa chuyên sâu vào đặc thù của địa phƣơng. Phan Xuân Quang (2008) đề tài luận văn thạc sỹ, “tăng cƣờng kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”. Luận văn đã hệ thống đƣợc những vấn đề cơ bản về kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát thuế giá trị gia tăng. Luận văn đã đề cập đến những tồn tại và những vấn đề bất cập trong công tác kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nằng, từ đó đƣa ra những giải pháp phù hợp với bối cảnh nghiên cứu.
[13] Lê Thị Hồng Lũy (2012) đề tài Luận văn thạc sỹ, “Tăng cƣởng kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại cục thuế tỉnh Bình Định”. Luận văn đã làm rõ việc kiểm soát thuế giá trị gia tăng ở các khâu trong quá trình thu thuế giá trị gia tăng, đề xuất các giải pháp để tăng cƣờng kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại cục thuế Bình Định. Tuy nhiên các giải pháp chủ yếu dựa trên các quy trình quản lý thuế, chƣa mang tính thực tế. Các giải pháp chung chung mang nặng tính lý thuyết.[9] Đoàn Chánh Thi (2014) đề tài Luận văn thạc sỹ [15], “Quản lý thu thuế Giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”.
Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý thuế Giá trị gia tăng, thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và đề xuất giải pháp. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại việc đánh giá thực trạng dựa trên bộ tài liệu thứ cấp đƣợc cung cấp mà chƣa khảo sát đánh giá của các doanh nghệp cũng nhƣ từ cán bộ quản lý thuế. Mặt khác, đề tài tập trung vào công tác quản lý thu thuế chứ chƣa đề cập đến chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng. Nguyễn Thị Phƣơng Linh (2018), [8] “Hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa 6 bàn tỉnh Quảng Trị”.
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Kết quả về công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bản tỉnh Quảng Trị, đánh giá những mặt tồn tại, hạn chế và đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Nghiên cứu về chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng đã đƣợc một số công trình đề cập đến nhƣ: nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Dung (2013), “Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng quản lý thuế tại chi cục thuế Chƣơng Mỹ, Hà Nội”, nghiên cứu của Nguyễn Thị Phƣợng (2014), “giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại chi cục thuế Thành phố Ninh Bình”. Các công trình này đƣợc sử dụng để tham khảo cho cơ sở lý thuyết về chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng đối với luận văn nghiên cứu này.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chƣa đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại các đơn vị. Cho đến nay cũng đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về việc xác định các yếu tố tác động đến chất lƣợng quản lý thuế. Một số nghiên cứu trên thế giới bao gồm nghiên cứu của Serim và cộng sự (2014), Michael Carnahan (2015). Một số các nghiên cứu ở Việt Nam nhƣ nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Dung (2013), Mai Thị Lan Hƣơng và Lê Đình Hải (2018).
Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu về quản lý thuế nói chung chứ chƣa đi sâu về quản lý thuế giá trị gia tăng. Và cho đến nay,nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng còn ít đƣợc thực hiện. Tại cục thuế Thanh Hóa, đã có những công trình nghiên cứu về quản lý thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào về các nhân tố 7 ảnh hƣởng đến chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng tại cục thuế Thanh Hóa.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả kế thừa khung cơ sở lý thuyết từ nghiên cứu của Mai Thị Lan Hƣơng và Lê Đình Hải (2018), “các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng công tác quản lý thuế tại chi cục thuế huyện ứng hòa – thành phố Hà nội”. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu cụ thể về các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng quản lý thuế giá trị gia tăng tại cục thuế Thanh Hóa.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế giá trị gia tăng 1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm và tác dụng của thuế giá trị gia tăng Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng có xuất phát điểm là từ nƣớc Pháp, đất nƣớc đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng vào năm 1954. Thuế giá trị gia tăng tiếng Pháp là Taxe Sur La Valeur Ajou tée (TVA), tiếng Anh là Value Added Tax (VAT) và đƣợc dịch sang tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng.
Hiện nay, thuế GTGT đã đƣợc áp dụng rộng rãi trên hầu nhƣ toàn bộ các nƣớc trên thế giới. Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khóa 9, Quốc hội nƣớc ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng và hiệu lực thi hành kể từ ngày đầu tiên năm 1999 (01/01/1999). Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế hiện đại, đƣợc các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất sớm. Trên thế giới, thuế GTGT hay còn gọi là VAT đã có lịch sử lâu đời, lần đầu xuất hiện năm 1917 và trải qua nhiều quá trình áp dụng, kiểm nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo quan điểm chung của các quốc gia thì, thuế GTGT (thƣờng đƣợc gọi tắt theo tiếng Anh là VAT – Value Added Tax) là một loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế đƣợc tính trên giá bán cuối cùng cho ngƣời tiêu dùng. Thuế GTGT do các 8 cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ nộp hộ ngƣời tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà ngƣời tiêu dùng phải trả cho ngƣời bán. Ngƣời tiêu dùng là ngƣời chịu thuế (Nguyễn Thị Phƣợng, Trang 5, 2018).
Khái niệm thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam lần đầu tiên đƣợc quy định tại Luật thuế giá trị gia tăng đƣợc Quốc hội nƣớc ta đƣa ra ngày 10/5/1997, có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 thay thế cho luật thuế doanh thu. Sau này đƣợc quy định tại điều 2, luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 3 tháng 6 năm 2008, “thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dung” (luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 3 tháng 6 năm 2008). Năm 2013 ban hành luật thuế Giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12. Từ đó tới nay có khá nhiều văn bản ban hành để hƣớng dẫn việc thực thi Luật thuế GTGT với tính thực tiễn rất cao.
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng và đƣợc thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ (Lê Hoằng Bá Huyền và Nguyễn Thị Bất (2016).