PHẦN MỞ ĐẦU TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hiện nay, nhu cầu đi lại tăng cao và sự tiện ích trong việc sử dụng vận tải cá nhân đã gây ra vấn đề ùn tắc ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hầu hết mọi người đang phụ thuộc nhiều vào phương tiện giao thông cá nhân vì sự hấp dẫn của phương tiện cá nhân. Sự gia tăng phương tiện cá nhân đã dẫn đến tình trạng tắc nghẽn giao thông gia tăng, do đó thời gian di chuyển dài hơn đối với nhiều người. Ngoài tắc nghẽn, phương tiện cá nhân cũng đang ảnh hưởng đến sự an toàn của người đi đường như:dễ bị tổn thương, tiêu thụ cao và không tái tạo tài nguyên; gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đến chất lượng môi trường của con người.Để ngăn chặn các vấn đề gây ra bởi sự gia tăng trong cơ giới hóa cao nên nhiều nhà nghiên cứu quyết định công cung cấp một dịch vụ phương tiện công cộng hấp dẫn thay thế chế độ giao thông tại nhiều thành phố.
Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay đã bắt tay vào một chương trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống vận tải hành khách công cộng với việc ưu tiên phát triển vận tải hành khách công cộng với sức chứa lớn. Trong 6 chương trình đột phá mà Đại hội Đảng bộ TPHCM khóa X (2015 – 2020) đưa ra có chương trình giảm ùn tắc giao thông với nội dung quan trọng là phát triển vận tải hành khách công cộng, ưu tiên giao thông công cộng sức chở lớn (hệ thống đường sắt đô thị và xe buýt nhanh BRT). Theo quyết định 568 của Chính Phủ về điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 có nêu rõ: vận tải sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải với chất lượng ngày càng cao, giá cả hợp lý đảm bảo an toàn, tiện lợi, kiềm chế tiến tới giảm tai nạn giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường trên cơ sở tổ chức vận tải hợp lý và phát huy lợi thế của thành phố Hồ Chí Minh; từng bước phát triển vận tải công cộng khối lượng lớn, vận tải đa phương thức, dịch vụ logistics. Các chỉ tiêu cụ thể như sau: - Giao thông công cộng (xe buýt, đường sắt đô thị, taxi): Thị phần đảm nhận từ 20% ÷ 25%; - Giao thông cá nhân (ô tô, xe máy, xe đạp): Thị phần đảm nhận từ 72% ÷ 77%; - Các loại hình giao thông khác: Thị phần đảm nhận ở mức 3%.
Tuy nhiên theo Sở Giao thông Vận tải TPHCM, trong thời gian qua, vận tải hành khách công cộng (xe buýt, taxi) vẫn đóng vai trò chủ lực nhưng có chiều hướng giảm mạnh, riêng xe buýt cả năm 2015 cũng chỉ đạt gần 367,7 triệu lượt, thấp hơn năm 2013 là 411 Trang 11 GVHD: TH.S NGUYỄN VĂN DŨNG SVTH:NHÓM SINH VIÊN QUY HOẠCH QUẢN LÝ Trường Đại Học GTVT Cơ Sở 2 Bài thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học Bộ môn Vận Tải-Kinh tế Lớp: Quy Hoạch Quản Lí GTVT Đô thị. Tính đến ngày 31/12/2014, tổng số xe buýt đang hoạt động trên địa bàn thành phố là 2.797 xe, giảm 74 xe so với cuối năm 2013; trong đó có đến 75% số xe buýt được đầu tư từ năm 2002, đã trở nên lạc hậu, không hấp dẫn người dân.Vận tải hành khách công cộng chỉ đảm nhận khoảng 10% nhu cầu đi lại của người dân,trong đó xe buýt chiếm 6.5% (2015), đều đó hoàn toàn trái ngược với mức 30% đến 70% thị phần tại các thành phố đang phát triển khác trên thế giới. Tình trạng này cũng một phần do chất lượng vận tải hành khách công cộng tại thành phố chưa đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng VTHKCC.Sự mất cân đối trong gánh nặng giao thông gây ra thiếu hụt các dịch vụ xe buýt, mà cuối cùng dẫn đến xe buýt đông đúc, thời gian chờ đợi quá nhiều, các dịch vụ chưa đáng tin cậy, sự trùng lặp của các tuyến xe buýt, không đủ số lượng quy mô, gia tăng nguy hiểm,… Chất lượng VTHKCC có vai trò quan trọng trong GTVT đô thị. Thể hiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, sự phát triển, hội nhập quốc tế về GTVT, nâng cao trình độ dân trí, văn minh GTVT đô thị.
Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực VTHKCC luôn phải quan tâm đến chất lượng dịch vụ VTHKCC nhằm giữ vững, chiếm lĩnh, mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ nói chung, dịch vụ VTHKCC nói riêng. Đến nay đã có một số nghiên cứu về chất lượng, nâng cao chất lượng dịch vụ VTHKCC nhưng bối cảnh quốc tế, trong nước liên tục thay đổi đòi hỏi các giải pháp đề xuất phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, có tính khả thi, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển mới của TP HCM nói riêng, các đô thị nói chung Chính vì vậy cải thiện chất lượng dịch vụ VTHKCC là vấn đề hết sức cấp thiết để có thể đáp ứng nhu cầu VTHKCC tại thành phố theo định hướng phát triển quy hoạch trong tương lai cũng như thu hút được lượng lớn hành khách tham gia VTHKCC. Đề tài “Ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc SEM và mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL để nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm cung cấp một công cụ để đo lường sự hài lòng của khách hàng trong giao thông công cộng.Cụ thể, một mô hình phương trình cấu trúc được xây dựng để tìm hiểu tác động của mối quan hệ giữa sự thỏa mãn của khách hàng và các thuộc tính chất lượng dịch vụ.Mô hình đề xuất có thể có ích cả để vận chuyển và lập kế hoạch để phân tích mối tương quan giữa các thuộc tính chất lượng dịch vụ và xác định các thuộc tính thuận tiện hơn cho việc cải thiện các dịch vụ được cung cấp. Trang 12 GVHD: TH.S NGUYỄN VĂN DŨNG SVTH:NHÓM SINH VIÊN QUY HOẠCH QUẢN LÝ Trường Đại Học GTVT Cơ Sở 2 Bài thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học Bộ môn Vận Tải-Kinh tế Lớp: Quy Hoạch Quản Lí GTVT Đô thị.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu. - Chất lượng dịch vụ VTHKCC TP.HCM - - Phạm vi nghiên cứu. - Phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu các chỉ tiêu, ý nghĩa và phạm vi ứng dụng chỉ tiêu chất lượng VTHKCC bằng xe buýt trên tuyến để từ đó đưa ra và tổng hợp các giải pháp, lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ VTHKCC. MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu lâu dài.
- Xác định được mong muốn/mức độ hài lòng của người sử dụng và người sử dụng tiềm năng đối với dịch vụ VTHKCC mà họ được cung cấp. - Nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút được nhiều hành khách đến với giao thông công cộng, nhằm giảm tác động xấu của vận tải cá nhân đến các mặt của đời sống kinh tế xã hội. - Mục đích cuối cùng của nghiên cứu này là cung cấp thông tin cho tương lai, hoạch định chính sách để tạo ra một dịch vụ vận chuyển hiệu quả theo các tiêu chuẩn chất lượng mà người dùng mong đợi. - Trên cơ sở hiện trạng tuyến nghiên cứu về cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ trên tuyến tìm ra ưu nhược điểm từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện chất lượng phục vụ VTHKCC.
Từ đó, làm tăng sản lượng hành khách sử dụng VTHKCC. Mục tiêu cụ thể. - Trang 13 GVHD: TH.S NGUYỄN VĂN DŨNG SVTH:NHÓM SINH VIÊN QUY HOẠCH QUẢN LÝ Trường Đại Học GTVT Cơ Sở 2 Bài thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học Bộ môn Vận Tải-Kinh tế Lớp: Quy Hoạch Quản Lí GTVT Đô thị. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các chỉ tiêu nghiên cứu.
- - - Phương pháp nghiên cứu. - - HK Phương pháp xử lý số liệu. • Trang 14 GVHD: TH.S NGUYỄN VĂN DŨNG SVTH:NHÓM SINH VIÊN QUY HOẠCH QUẢN LÝ Trường Đại Học GTVT Cơ Sở 2 Bài thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học Bộ môn Vận Tải-Kinh tế Lớp: Quy Hoạch Quản Lí GTVT Đô thị. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI Đề tài của chúng em gồm 3 chương: - Chương thứ nhất: Cơ sở lý thuyết của đề tài - Chương thứ hai: Kiểm định bằng mô hình - Chương thứ ba: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ VTHKCC tại thành phố Hồ Chí Minh.
Do còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn và thực tế nên đề tài này của chúng em không thể tránh khỏi thiếu sót. Thành thật mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài của chúng em được hoàn chỉnh hơn. LỜI CẢM ƠN Chúng em xin chân thành cảm ơn Ths. Nguyễn Văn Dũng đã trực tiếp hướng dẫn nhóm em hoàn thành đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn ! Tp.HCM, ngày 14 tháng 4 năm 2015 Đại diện nhóm sinh viên thực hiện Nguyễn Văn Hòa Bảo Trang 15 GVHD: TH.S NGUYỄN VĂN DŨNG SVTH:NHÓM SINH VIÊN QUY HOẠCH QUẢN LÝ Trường Đại Học GTVT Cơ Sở 2 Bài thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học Bộ môn Vận Tải-Kinh tế Lớp: Quy Hoạch Quản Lí GTVT Đô thị. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI I.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI I.1 Khái quát về chất lượng sản phẩm – dịch vụ I.1 Quan niệm về sản phẩm – dịch vụ trong nền kinh tế thị trường + Quan niệm về sản phẩm Trong điều kiện toàn cầu hoá và sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ cùng với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường người ta quan niệm sản phẩm có nghĩa là khá rộng rãi. Trong bối cảnh đó, sản phẩm được coi là kết quả hoạt động của tất cả các ngành sản xuất, vật chất và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm không đơn thuần là những sản vật thuần vật chất (net material), mà còn bao gồm các dịch vụ (services).
Theo ISO 8402:1994: “Sản phẩm (product) là kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình. Quá trình là tập hợp các nguồn lực và các hoạt động liên quan đến nhau để biến đầu vào thành đầu ra”. Nguồn lực ở đây bao gồm nguồn nhân lực, trang thiết bị công nghệ và các phương pháp… Sản phẩm bao gồm các vật thể hữu hình và vô hình (các dịch vụ, thông tin…).