CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Sơ lược giải phẫu, sinh lý xương quay.1 Xương quay Xương quay là một trong hai xương tạo nên cẳng tay, xương còn lại là xương trụ. Ở tư thế giải phẫu (tức là hai tay buông thẳng xuống thân mình, lòng bàn tay hướng ra phía trước), xương quay nằm phía ngoài và song song với xương trụ. Ở tư thế nghỉ (tức là bàn tay ở tư thế gõ bàn phím), đầu xa của xương quay nằm chéo và chồng lên trên xương trụ. Xương quay nằm giữa hàng xương cổ tay ở phía dưới và xương cánh tay ở phía trên.
Xương quay thường được coi là lớn hơn trong số hai xương ở cẳng tay. Xương quay dày hơn ở cổ tay, nhưng mỏng hơn ở khuỷu tay và ngắn hơn xương trụ khoảng 1 inch ở hầu hết mọi người. Tuy nhiên, độ dài của chúng thì khác nhau đáng kể. Xương quay là một xương dài, một trong bốn loại xương trong cơ thể.
Xương dài là một xương đặc, chắc khỏe, chiều dài lớn hơn chiều rộng. Thân xương rỗng, với không gian bên trong gọi là khoang tủy, khoang tủy có chứa tủy xương. Hình 1: Xương quay và vị trí [14] Xương quay dài từ 20 cm đến 26 cm ở người trưởng thành. Trung bình là 24 cm ở nam và 22 cm ở nữ.
Đầu xa trung bình rộng khoảng 2. Đầu gần rộng bằng khoảng một nửa đầu xa. 3 Thư viện ĐH Thăng Long Xương quay là một loại xương dài điển hình với xương cứng, chắc dọc thân xương. Đầu xương có xương xốp, cứng dần theo tuổi.
Hình dạng của nó ở 1/5 phía trên thẳng, 4/5 phía dưới cong lõm ra trước. Hình 2: Xquang cẳng tay thẳng nghiêng [12] Xương quay được chia làm ba phần: thân xương, đầu trên và đầu dưới Thân xương quay có 3 mặt: mặt trước, mặt sau và mặt ngoài. Mặt trước bắt đầu từ lồi củ quay, xuống dưới rộng dần, khoảng giữa có lỗ nuôi xương. Hai mặt trước và sau hơi lõm, mặt ngoài lồi.
Có ba bờ: bờ trước, bờ sau và bờ gian cốt. Bờ gian cốt sắc hướng vào trong Đầu trên gồm chỏm, cổ và lồi củ. • Chỏm xương quay có dạng hình trụ, mặt lõm hướng lên trên, khớp với chỏm con xương cánh tay. Một diện khớp vòng (vành quay) sẽ tiếp khớp với khuyết quay của xương trụ.
Chỏm của nó xoay quanh xương trụ trong dây chằng vòng tạo nên khả năng sấp ngửa của cẳng tay. Ở xương tươi, các diện khớp này đều có sụn bọc che phủ. • Cổ xương dài khoảng 10-12 mm, có dạng hình ống. • Lồi củ quay là nơi bám của cơ nhị đầu.
Từ phần trên lồi củ quay, trục xương đứng thẳng. Từ phần dưới, thân xương hơi uốn cong. Giữa cổ xương và thân xương hợp thành một góc mở ra ngoài gọi là góc cổ thân. Nhờ góc này nên nó có thể quay quanh xương trụ làm cho bàn tay sấp ngửa được.
Khi gãy xương có thể bị gập góc hoặc hai khúc gãy chồng lên nhau làm cho cử 4 động sấp ngửa bị giảm hoặc mất. Hình 3: Đầu trên xương quay [14] Đầu dưới xương quay thân xương có 3 mặt. Khi tới đầu dưới sẽ là năm mặt. • Mặt trong do bờ gian cốt chia đôi tạo nên.
Mặt trong hình tam giác, ở dưới có một diện khớp nhỏ gọi là khuyết trụ xương quay. • Mặt ngoài và mặt sau có nhiều rãnh cho gân các cơ duỗi đi xuống bàn tay. Mặt ngoài mở rộng xuống tạo thành mỏm trâm quay. Mặt sau lồi và có chứa một gờ nổi lên được gọi là lồi củ Lister.
• Mặt trước trơn láng, tạo nên một gờ rõ rệt. • Mặt dưới là mặt khớp với các xương cổ tay, có diện khớp cổ tay. Mặt dưới hình tam giác, đỉnh ở ngoài. Ở nơi đây có một mấu nhô xuống dưới gọi là mỏm trâm.
Mỏm trâm ở ngay dưới da cổ tay. Nó có thể bị gãy ở chỏm, cổ, thân, nhất là ở giữa đầu dưới và thân xương. Vì đầu dưới ở ngay dưới da nên khi gãy, di lệch nhìn thấy rất rõ ràng. 5 Thư viện ĐH Thăng Long Hình 4: Đầu dưới xương quay [14] Đặc điểm của xương quay người Việt Nam: Chiều dài xương là 23.25 cm, chu vi là 3.
Chỉ số khỏe là 17. Thân xương đo được 15 mm ở chỗ rộng nhất và dầy 10 mm (ở chỗ đó). Góc cổ thân trung bình 162°5 (157° – 170°).[2] Xương quay và xương trụ được kết nối bởi một dải mô sợi dày được gọi là dây chằng gian cốt hay màng gian cốt. Một dây chằng nhỏ hơn liên kết giữa đầu gần xương quay và xương trụ được gọi là thừng chéo.
Các thớ sợi của nó chạy theo hướng ngược lại với màng gian cốt.2 Các cơ vùng cẳng tay 1.1 Các cơ vùng cẳng tay gồm 20 cơ Nhóm cơ vùng cẳng tay trước bao gồm 8 cơ, chia làm 3 lớp: ▪ Lớp nông (có 4 cơ): cơ sấp tròn, cơ gấp cổ tay quay, cơ gan tay dài và cơ gấp cổ tay trụ ▪ Lớp giữa (có 1 cơ): cơ gấp các ngón nông ▪ Lớp sâu (có 3 cơ): cơ gấp các ngón sâu, cơ gấp ngón cái dài và cơ sấp vuông. Nhóm cơ vùng cẳng tay sau bao gồm 12 cơ, chia làm 2 lớp nông và sâu: • Lớp nông bên ngoài (có 3 cơ): cơ cánh tay quay, cơ duỗi cổ tay quay dài, cơ duỗi cổ tay quay ngắn. Lớp nông phía sau (có 4 cơ): cơ duỗi các ngón, cơ duỗi ngón út, cơ duỗi cổ tay trụ, cơ khuỷu. • Lớp sâu (có 5 cơ): cơ dạng ngón cái dài, cơ duỗi ngón cái ngắn, cơ duỗi ngón cái dài, cơ duỗi ngón trỏ, cơ ngửa.2 Các cơ bám vào xương quay (9 cơ) • Cơ sấp tròn: Bám vào giữa mặt ngoài của xương.
Chức năng: sấp bàn tay và gấp cẳng tay. • Cơ gấp các ngón nông: Có nguyên ủy bám vào nửa trên bờ trước của xương. Chức năng: gấp các khớp gian đốt gần các ngón 2, 3, 4, 5 và gấp cổ tay. • Cơ gấp ngón cái dài: Nguyên ủy: bám ở giữa mặt trước của xương.
Chức năng: Gấp ngón tay cái. • Cơ sấp vuông: Bám tận: mặt trước của xương (1/4 xa). Chức năng sấp cẳng tay và bàn tay. • Cơ cánh tay quay: bám tận ở nền mỏm trâm quay.
Chức năng: gấp cẳng tay, sấp cẳng tay nếu cẳng tay đang ngửa, và ngửa cẳng tay nếu cẳng tay đang sấp. • Cơ dạng ngón cái dài: Nguyên ủy: bám vào mặt sau thân xương. Chức năng dạng ngón cái và bàn tay. • Cơ duỗi ngón cái ngắn: Nguyên ủy: bám vào mặt sau thân xương.
Chức năng duỗi đốt gần ngón cái và dạng bàn tay. • Cơ ngửa: Bám tận mặt ngoài và bờ sau xương quay. Chức năng: ngửa cẳng tay và bàn tay. • Ngoài ra còn có cơ nhị đầu ở vùng cánh tay bám vào lồi củ xương quay.3 Các khớp tạo nên bởi xương quay • Khớp quay trụ trên: là khớp giữa chỏm xương quay và khuyết quay xương trụ.
Qua đó nó có thể xoay quanh xương trụ, bên trong dây chằng vòng. Nhờ đó mà cẳng tay có thể sấp ngửa được. • Khớp cánh tay quay: là khớp giữa chỏm xương quay và chỏm con của xương cánh tay. • Khớp quay trụ dưới: là khớp giữa đầu dưới xương trụ với khuyết trụ xương quay.
Qua đó xương nó có thể xoay quanh xương trụ, giúp cẳng tay có thể sấp ngửa. • Khớp quay cổ tay: là khớp giữa mặt dưới xương quay và hàng xương cổ tay đầu tiên. Chủ yếu khớp với xương thuyền ở phía ngoài, xương nguyệt ở phía trong. Xương tháp chỉ tiếp xúc không liên tục với xương quay khi nghiêng trụ cổ tay.
Khớp quay cổ tay là một khớp hình ellip. Trong đó, các xương thuyền, nguyệt, tháp lồi khớp với mặt lõm của xương quay. 7 Thư viện ĐH Thăng Long Hình 5: Xquang cổ tay các tư thế và khớp của xương quay [15] Chức năng của xương quay và đầu dưới xương quay Xương quay thực hiện các chuyển động ở cánh tay đặc biệt mở rộng phạm vi di chuyển của bàn tay và cổ tay. Xương quay và xương trụ kết hợp với nhau để nâng, xoay và thực hiện một số thao tác khác ở tay.
Khi trẻ bò, xương quay hỗ trợ cung cấp khả năng chuyển động. Xương quay hỗ trợ nâng trọng lượng của cơ thể khi cánh tay ở tư thế bò và nâng trọng lượng cơ thể, chẳng hạn động tác chống đẩy. Chức năng chính là khớp với các xương xung quanh để tạo nên các vận động cần thiết. Khớp với xương trụ ở khớp quay trụ trên và quay trụ dưới tạo nên vận động sấp ngửa của cẳng tay.
Khớp với xương cánh tay ở khớp cánh tay quay để tạo nên vận động gấp duỗi khuỷu. Khớp với xương thuyền, nguyệt để tạo nên các vận động của cổ tay bao gồm: gấp, duỗi, nghiêng quay, nghiêng trụ.[18] Gãy đầu dưới xương quay đơn thuần gặp nhiều nhất trong các gãy xương ở cẳng tay so với gãy riêng xương trụ và gãy cả hai xương cẳng tay. Ở trẻ em, hơn 50% trường hợp gãy xương cẳng tay chỉ liên quan đến xương quay, 6% chỉ liên quan đến xương trụ và 44% liên quan đến cả hai xương[13]. Gãy xương quay cũng rất phổ biến ở người lớn.
Tỷ lệ là như nhau giữa nam và nữ, tuy nhiên, đến giữa những năm 40 của lứa tuổi thì gãy xương xảy ra thường xuyên hơn ở nữ giới. Khi bệnh nhân ngã chống tay xuống đất hầu hết áp lực đặt lên xương quay. Nó có thể chỉ gãy đơn thuần xương quay, chỉ gãy đơn thuần xương trụ, hoặc gãy cả 2 xương.[16] Gãy đầu dưới xương quay là loại phổ biến nhất. Bệnh nhân lớn tuổi và bệnh nhi là những người có nguy cơ nhiều hơn những bệnh nhân trưởng thành trẻ tuổi khi ngã chống tay cổ tay duỗi.
Bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơ gãy chỏm xương quay.[9] 8 Bệnh nhi có nhiều khả năng gãy xương không hoàn toàn, thường được gọi là gãy cành tươi, do bản chất linh hoạt của mô xương chưa trưởng thành. Bệnh nhân trước tuổi vị thành niên cũng có nguy cơ làm phá hủy sụn tiếp hợp. Tổn thương sụn tiếp hợp có thể dẫn đến những biến dạng lâu dài.[17] Đau là triệu chứng phổ biến nhất khi gãy xương. Sau khi ngã chống tay với cổ tay duỗi có thể dẫn đến đau ở cổ tay, cẳng tay, hoặc khuỷu tay.
Tất cả các dấu hiệu đó chỉ điểm cho khả năng gãy xương. Các dấu hiệu khác: biến dạng, nhạy cảm, lạo xạo xương, sưng, bầm tím và giảm hoặc mất cơ năng hoặc cảm giác. Phân loại gãy xương Có rất nhiều cách phân loại gãy đầu dưới xương quay, tuy nhiên chưa có tác giả nào phân loại hoàn chỉnh do gãy có nhiều biến thể, gãy phức tạp, phối hợp. ➢ Phân loại của A.