mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. cho rằng: “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm đƣợc sự phong phú của nơi sống, nhƣng không có sự phân hóa về mặt địa lý”, ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể, ông đƣa ra nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thƣờng là 1500 - 2000 loài. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 10 Ngày nay, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học đã trở thành một chiến lƣợc toàn cầu. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hƣớng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.
Đó là, hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), chƣơng trình môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), viện tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI). Năm 1990 WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh học (The importance of biological diversity) hay IUCN, UNEP và WWF đƣa ra chiến lƣợc bảo tồn thế giới (World conservation strategy). Năm 1991 Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn sách bảo tồn đa dạng sinh học thế giới (Conserving the Word’s biological diversity). Cùng năm, Wri, IUCN và UNEF xuất bản cuốn chiến lƣợc đa dạng sinh học và chƣơng trình hành động, tất cả các cuốn sách đó nhằm hƣớng dẫn và đề ra các phƣơng pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tƣơng lai.
Bên cạnh đó có hàng ngàn tác phẩm những công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn cuộc thảo luận khác nhau đƣợc tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phƣơng pháp luận và thông báo kết quả đã đạt đƣợc ở khắp mọi nơi trên thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực đƣợc nhóm họp tạo thành mạng lƣới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học [37]. Tái sinh rừng Tái sinh rừng đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây g. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây tái sinh và đặc điểm phân bố.
Khi đề cập đến điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với ô đo đếm điều tra tái sinh có diện tích từ 1 - 4 m2. Do diện tích điều tra nhỏ nên việc đo đếm có nhiều thuận lợi nhƣng số lƣợng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng. Richards (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 11 Một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới châu Á nhƣ Bara (1954), Budowski (1956) có nhận định dƣới tái sinh rừng nhiệt đới nói chung có đủ lƣợng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh này là cần thiết.
Nhờ những nghiên cứu này nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã đƣợc xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể [16]. Van Steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán - liên tục và tái sinh vệt. Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy cả ở rừng thứ sinh - một đối tƣợng rừng khá phổ biến ở nhiều nƣớc nhiệt đới. Nghiên cứu về phân loại trạng thái rừng Mục đích chủ yếu của phân loại rừng là nhằm xác định các đối tƣợng rừng với những đặc trƣng cấu trúc cụ thể, từ đó lựa chọn, đề xuất các biện pháp lâm sinh thích hợp để điều khiển, dẫn dắt rừng đạt trạng thái chuẩn.
Loestchau (1966) đã phân loại rừng theo trạng thái hiện tại trong công trình: Phân chia kiểu trạng thái và phƣơng hƣớng kinh doanh rừng h n giao lá rộng thƣờng xanh nhiệt đới. Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau cải tiến cho phù hợp với đặc điểm rừng tự nhiên của Việt Nam và cho đến nay vẫn áp dụng hệ thống phân loại này [46]. Thái Văn Trừng (1978) đứng trên quan điểm sinh thái đã chia rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật. Đây là công trình tổng quát, đáp ứng đƣợc yêu cầu về quy luật sinh thái.
Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú của rừng nhiệt đới, Thái Văn Trừng đƣa ra kết luận: Không thể dùng quần hợp thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản nhƣ các tác giả kinh điển đã sử dụng ở vùng ôn đới. ng đề xuất dùng kiểu thảm thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản và lấy hình thái, cấu trúc quần thể làm tiêu chuẩn phân loại[38]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 12 Lê Sáu (1996) [33]Trần Cẩm Tú (1999) [40], Nguyễn Thành Mến (2005) [25] khi phân loại trạng thái rừng tự nhiên tại Kon Hà Nừng – Tây Nguyên, Hƣơng Sơn – Hà Tĩnh, Phú Yên đã dựa trên hệ thống phân loại rừng của Loeschau (1960) đã đƣợc Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam bổ sung (QPN6 – 84). Gần đây một số tác giả đã sử dụng mô hình toán học để phân loại trạng thái rừng, điển hình nhƣ: Ngô Út (2003), bƣớc đầu định lƣợng hoá việc phân loại các trạng thái rừng thuộc kiểu rừng kín thƣờng xanh và nửa rụng lá vùng Đông Nam Bộ; Nguyễn Văn Thêm (2003), ứng dụng hàm lập nhóm trong phân loại trạng thái rừng và đƣa ra kết luận: Các trạng thái rừng theo hệ thống phân loại của Loeschau có thể đƣợc nhận biết chính xác thông qua các hàm phân loại tuyến tính nhƣ Fisher đƣợc xây dựng dựa trên nhiều biến số định lƣợng.
Ngô Út, Nguyễn Phú Hùng (2003) đƣa ra một số ý kiến về cải thiện hệ thống phân chia trạng thái rừng lá rộng thƣờng xanh Việt Nam… Các tác giả này đã nghiên cứu và đề xuất các ý kiến nhằm bổ sung cho hệ thống phân loại trạng thái rừng của Việt Nam, khả năng ứng dụng hàm toán học trong phân chia trạng thái rừng. Phân loại rừng theo Thông tƣ số 34/2009/TT-BNNPTNT về những quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng. Đây là văn bản quy định về hệ thống phân loại rừng nhằm phục vụ cho công tác điều tra, kiểm kê, thống kê rừng; quy hoạch bảo vệ phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chƣơng trình, dự án lâm nghiệp. Thông tƣ này, ngoài việc quy định những tiêu chí xác định rừng, phần trọng tâm của văn bản là những quy định về phân loại rừng đƣợc dựa trên những căn cứ khác nhau.
Cụ thể: (1) Phân loại rừng theo mục đích sử dụng; (2) Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành; (3) Phân loại rừng theo điều kiện lập địa; (4) Phân loại rừng theo loài cây; (5) Phân loại rừng theo trữ lượng. Phân loại rừng theo Thông tƣ 34/2009/TT-BNN cho thấy đƣợc những cố gắng có thể lƣợng hóa đƣợc từng tiêu chí, chỉ số trong từng loại rừng. Ƣu điểm này phục vụ rất tốt cho công tác theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và phần nào đáp ứng đƣợc những đòi hỏi từ thực tiễn sản xuất lâm nghiệp hiện nay. Đây là hệ thống phân chia rừng có sự kế thừa một cách có chọn lọc và sáng tạo từ những hệ thống phân loại trƣớc; đồng thời cũng bổ sung đƣợc những tiêu chuẩn, tiêu chí mới khi phân loại.
Mặt khác, nội dung phân loại PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 13 rừng ở Thông tƣ này có tính hợp nhất và tổng hợp lại gần nhƣ toàn bộ cách thức phân loại rừng (mục đích sử dụng, nguồn gốc hình thành, điều kiện lập địa, theo loài cây và theo trữ lƣợng) do đó thuận tiện cho sản xuất và quản lý rừng, tránh đƣợc sự trùng lặp với các hệ thống phân loại khác. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng Thông tƣ này cũng đã bộc lộ một số tồn tại nhất định. Do cố gắng chi tiết hóa nên có những trƣờng hợp không khái quát hết đƣợc. Ví dụ, phân loại theo loài cây đối với cây lá kim, thực tế có những quần thể lá kim tự nhiên hay nhân tạo thuần loài.
Việc phân loại theo trữ lƣợng đã dẫn tới kẽ hở pháp lý khi xác định rừng nghèo và rừng chƣa có trữ lƣợng để cải tạo thành loại rừng khác. Nhƣ vậy, các tác giả đều cho rằng: Việc phân loại trạng thái rừng ở Việt Nam là rất cần thiết trong công tác nghiên cứu cũng nhƣ sản xuất kinh doanh. Tùy các mục tiêu cụ thể mà lựa chọn các phƣơng pháp phân loại khác nhau, nhƣng đều nhằm làm r hơn các đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu. Về cấu trúc rừng Trần Ngũ Phƣơng (1970) đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965.
Nhân tố cấu trúc đầu tiên đƣợc nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng đƣợc phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất[10]. Nghiên cứu tại vùng Đông Bắc (1989) phát hiện 393 loài cây g của 74 họ thực vật. Các loài phân bố không đều và giữ vai trò khác nhau trong tổ thành của 3 loại rừng phổ biến trong toàn vùng (IIA, IIIA1, IIIA3). Ở trạng thái rừng IIIA1, IIIA3 loài ƣu thế không rõ nét.
Kết cấu tầng thứ của rừng tƣơng đối phức tạp, đáng lƣu ý là tầng tán chính và tầng vƣợt tán gồm các loài cây g lớn nhƣ: Lim xanh, Gi gai… thƣờng cong queo, sâu bệnh không đáp ứng yêu cầu g trụ mỏ, mật độ tƣơng đối thấp. Phân bố số cây của rừng thể hiện phân bố giảm đối với đƣờng kính và phân bố nhiều đỉnh đối với chiều cao[4]. Khi nghiên cứu kiểu rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới ở nƣớc ta Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) (Theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22]đã đƣa ra mô hình cấu trúc tầng nhƣ: tầng vƣợt tán (A1), tầng ƣu thế sinh thái (A2), tầng dƣới tán (A3), PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 14 tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C).