mở đầu một giai đoạn hợp tác nghiên cứu biển của Việt Nam. Theo các chương trình hợp tác đã ký, các con tàu của các nước như Pháp (tàu Atalante đã thực hiện chương trình khảo sát “Ponaga” đo trọng lực, từ và thu nổ địa chấn nông kết hợp với lấy mẫu tầng mặt ở vùng biển Hoàng Sa, miền Trung và Đông Nam Việt Nam, 1993), Đức (chương trình hợp tác nghiên cứu vùng nước trồi Nam bộ, sử dụng tàu Sonne, 1996, 1999, 2000 và 2004- 2005), Nhật, Mỹ, Nga, Philippin.đã lần lượt vào điều tra nghiên cứu về địa chất, địa vật lý, khí tượng, hải dương, môi trường và sinh học, hóa học trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Cũng từ những năm 1975 – 1995 và cho tới nay, đoàn 6 Hải quân Việt Nam (sau này là đoàn đo đạc biên vẽ hải đồ thuộc Bộ tư lệnh Hải quân) được giao nhiệm vụ hợp tác với các cơ quan, các ngành biên vẽ quản lý các hải đồ trên vùng biển 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam. Hải Quân Việt Nam đã thu thập, xử lý tổng hợp các số liệu khảo sát về địa hình đáy biển của Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật và các nước, tiến hành khảo sát đo đạc bổ sung để thành lập, biên vẽ các bản đồ địa hình và hải đồ ở các tỷ lệ 1:1.000 chung cho toàn vùng biển, các tỷ lệ 1:400.000 cho các vùng ven bờ.
Cũng trong các năm từ 1991 đến 1999 Cục địa chất Việt Nam đã triển khai đề án điều tra khảo sát địa chất và tìm kiếm khoáng sản biển dọc đới ven bờ từ Móng Cái đến Hà Tiên đến độ sâu 30m nước và đạt tỷ lệ nghiên cứu có độ chi tiết khá cao (1:200. Ở đây cần phải nhấn mạnh về các chương trình nghiên cứu biển trọng điểm cấp nhà nước được thực hiện liên tiếp từ 1977 đến nay như: Chương trình Thuận Hải – Minh Hải (1977-1980), trong đó các nhà địa chất Việt Nam (Lê Văn Cự, Hồ Đắc Hoài, Ngô Thường San) đã có những công trình nghiên cứu tổng hợp về cấu trúc kiến tạo của thềm lục địa Việt Nam và phân chia ra các bể trầm tích Kainozoi ở tỉ lệ 1:500.000 và lớn hơn với mục đích thăm dò tìm kiếm các mỏ dầu khí. Trong chương trình 48-06 (1981-1985), Hồ Đắc Hoài đã hoàn thành đề tài xây dựng bản đồ đẳng sâu đáy biển thềm lục địa Việt Nam ở tỷ lệ 1:1. Từ 1985 đến 1989 Cục đo đạc bản đồ nhà nước đã lần lượt xuất bản các bản đồ địa hình Việt Nam, bao gồm cả vùng thềm lục địa và ven biển ở tỷ lệ 1:1.
Ngoài ra còn xuất bản bản đồ địa hình toàn Biển Đông tỷ lệ 1:4. Trong giai đoạn 1991-1995, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp nhà nước KT-03-02, Bùi Công Quế, Nguyễn Giao và nnk đã tiếp tục bổ sung xử lý số liệu mới, thành lập bản đồ dị thường trọng lực và từ vùng biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1:1. Trên cơ sở đó đã tính toán xây dựng các sơ đồ và mặt cắt cấu trúc sâu, các hệ địa động lực của thềm lục địa Việt Nam và biển Đông, thành lập các bản đồ cấu trúc kiến tạo và địa động lực của các bể trầm tích Kainozoi trên thềm lục địa Việt Nam.Các bản đồ địa chất, địa vật lý trong đề tài KT-03-02 các bản đồ địa chất, địa vật lý đã tiếp tục được bổ sung và phát triển hoàn thiện ở các tỷ lệ 1:1.000 và lớn hơn trên từng vùng thuộc thềm lục địa Việt Nam. Trong khuôn khổ các đề tài trọng điểm cấp nhà nước KHCN-06-04 và KHCN-06-12 (Bùi Công Quế, Nguyễn Thế Tiệp và nnk 1996- 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2000) các tác giả đã chỉnh lý, hoàn thiện hơn các bản đồ dị thường trọng lực, các bản đồ cấu trúc sâu, bản đồ cấu trúc kiến tạo, bản đồ địa mạo, bản đồ trầm tích đáy biển vùng biển Việt Nam ở tỷ lệ 1:1.
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp nhà nước 48-B-3-2 (1996-2000), Bùi Công Quế và Nguyễn Hiệp lần đầu tiên đã tập hợp và liên kết các kết quả thăm dò địa vật lý trên các vùng thềm lục địa Việt Nam để thành lập các bản đồ dị thường trọng lực và dị thường từ ΔTa tỷ lệ 1:500.000 thống nhất cho toàn thềm lục địa (phạm vi các bể trầm tích Kainozoi) và bản đồ trọng lực dị thường Fai và Bughe cho toàn biển Đông, tỷ lệ 1:200. Trong mỗi chương trình đều có mục tiêu và nhiệm vụ thu thập, tổng hợp đánh giá và bổ sung cập nhật kết quả điều tra khảo sát và nghiên cứu về các đặc trưng điều kiện tự nhiên và môi trường, nguồn lợi hải sản trên phạm vi toàn vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, kể cả vùng biển và trên các đảo thuộc vùng quần đảo Trường Sa. Trong khuôn khổ các chương trình nghiên cứu biển nói trên ngoài những số liệu, tư liệu điều tra khảo sát được thu thập, có nhiều chuyến khảo sát, điều tra mới được bổ sung và tăng cường, đặc biệt là trên các vùng biển khơi xa bờ và trên phạm vi vùng trung tâm biển Đông và vùng quần đảo Trường Sa.Ngoài các kết quả nghiên cứu thu được từ các chương trình nghiên cứu biển trên, nhiều kết quả từ các tác giả ngoài nước cũng đã công bố: Hayes và Taylor (1978-1980) đã xuất bản tập bản đồ về các trường địa vật lý và cấu trúc các vùng biển Đông Nam á và Đông á với tỷ lệ 1:5.000, trong đó có loạt các bản đồ địa chất và địa vật lý Biển Đông. Năm 1987, Viện khoa học Quảng Đông Trung Quốc xuất bản tập Atlas địa chất-địa vật lý Biển Đông gồm 11 bản đồ tỷ lệ 1:2.000 toàn Biển Đông với các đặc trưng địa hình-địa mạo, bản đồ dị thường trọng lực, dị thường từ, bản đồ kiến tạo, bản đồ các bể trầm tích Kainozoi, bản đồ các thành tạo đệ tứ, bản đồ trầm tích đáy, bản đồ địa hình móng kết tinh, Moho.G và các nhà địa chất của trung tâm Viễn Đông, viện HLKH Liên Xô đã công bố chuyên khảo “ Tiến hóa trong Kainozoi của vỏ Trái đất vùng biển Đông Nam Á” trong đó đã tổng hợp những kết quả điều tra khảo sát về địa chất và địa vật lý trên vùng Biển Đông của các nhà khoa học Liên Xô và Việt Nam trong những năm 1975-1985, xây dựng các bản đồ, sơ đồ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấu trúc kiến tạo, địa động lực và cấu trúc sâu, lịch sử phát triển kiến tạo trên vùng thềm lục địa Việt Nam và toàn biển Đông.
Về các bể trầm tích Kainozoi trên vùng biển Việt Nam: đây là một trong những đối tượng điều tra nghiên cứu quan trọng bởi nó liên quan đến sự hình thành và phân bố các mỏ dầu khí. Các trầm tích Kainozoi trên vùng biển Việt Nam cũng là những nội dung mới phong phú đề cập trong rất nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước. Từ sau năm 1975 các nghiên cứu về trầm tích Kainozoi được tiến hành toàn diện và có hệ thống. Các công trình nghiên cứu xác định đặc điểm trầm tích liên quan trực tiếp với các dạng tiềm năng dầu khí trong Oligoxen và Mioxen.
Các nghiên cứu dựa trên kết quả minh giải tài liệu địa vật lý và phân tích mẫu từ các lỗ khoan và liên kết cho từng vùng, từng cấu tạo riêng biệt. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, các công trình nghiên cứu về trầm tích Kainozoi trên thềm lục địa Việt Nam đã đạt độ chi tiết khá cao và đã mở rộng theo hướng liên kết với các hiện tượng địa chất trên toàn Biển Đông cũng như xác định đặc điểm phát triển kiến tạo của khu vực nghiên cứu trong suốt lịch sử của Kainozoi (Đỗ Bạt,1993. Phan Trung Điền,1992,1995.Ngô Thường San,1993,1995) Về các công trình nghiên cứu đặc điểm cấu trúc các ranh giới cơ bản và các ranh giới sâu trong vỏ trái đất trên thềm lục địa Việt Nam và Biển Đông được đề cập trong các nghiên cứu của Hayes (1975, 1980), Parke (1985), Hồ Đắc Hoài (1985), Bùi Công Quế, Đỗ Đức Thanh (1990, 1995, 1998, 2000), Wujimin (1994), Lieng Dehua (1993), Kulinic (1989), Rangin (1986, 1990), Watkins (1994), Hinz và nnk (1985, 1996). Các tác giả nói trên đã tổng hợp số liệu điều tra về địa chất - địa vật lý xây dựng các sơ đồ, bản đồ cấu trúc sâu ranh giới cơ bản của vỏ cũng như các đặc trưng địa động lực trên thềm lục địa và các vùng khác trên Biển Đông.
Ngoài ra, đặc điểm hệ thống các đứt gãy trong vỏ trái đất và các hoạt động kiến tạo, địa động lực liên quan với chúng trên vùng biển Việt Nam và Biển Đông, đặc biệt là động đất, núi lửa, hoạt động tân kiến tạo… được khảo sát và nghiên cứu từ những thập niên đầu của thế kỷ 20 liên tục cho đến nay. Từ những năm 1950- 2000 các nhà địa chất của châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á như : Pháp, Anh, Đức, Hà 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lan, Mỹ, Canada, Nga, Nhật, Trung Quốc, Việt Nam,… đã lần lượt công bố nhiều chương trình điều tra nghiên cứu về địa chất, kiến tạo của Biển Đông, trong đó lần lượt phát hiện và mô tả về cấu trúc và địa động lực của hệ thống đứt gãy lớn trên Biển Đông và vai trò của chúng trong việc hình thành, phát triển của Biển Đông cũng như các hoạt động kiến tạo trong những giai đoạn khác nhau. Điển hình trong số các công trình này là Fromaget 1942, Shepard 1949, Saurin E 1957, 1962, Be- Avrahan, Uyeda 1973, Parke et al 1977, Hayes D.K 1985, Taylor B and Hayes D. Trong giai đoạn này, trên các vùng ven biển và thềm lục địa Việt Nam, trên vùng quần đảo Trường Sa đã tiến hành nhiều hoạt động điều tra thăm dò nghiên cứu về địa chất và kiến tạo gắn liền với mục tiêu tìm kiếm dầu khí, khoáng sản và phòng tránh thiên tai địa chất, các nhà địa chất Việt Nam và ngoài nước đã công bố nhiều chương trình với kết quả nghiên cứu phong phú về địa chất, kiến tạo và vai trò của các hệ đứt gãy vùng ven biển và thềm lục địa Việt Nam.
Có thể kể ra một số công trình của Lê Duy Bách (1987, 1990), Hồ Đắc Hoài 1991, 1995, Ngô Thường San 1986, Lê Như Lai 1995, Bùi Công Quế (1996, 2000). Trong giai đoạn này, nghiên cứu cấu trúc móng trước Kainozoi đã được đề cập bởi Văn Đức Chương, 1991 [2] với công trình ” Cấu trúc móng trước Kainozoi của vùng trũng Hà Nội” trên khu vực vùng trũng Hà Nội dựa trên cơ sở phân tích tài liệu địa chất-địa vật lý.