Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ địa chất của nghiên cứu sinh Nguyễn Duy Bình với đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc địa chất trũng Sông Ba và vùng Đông Triều – Quảng Ninh theo tài liệu địa chấn phản xạ" thuộc chuyên ngành Địa chất học (mã số 9440201), được thực hiện tại Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TSKH Phạm Khoản và TS. Trịnh Hải Sơn (bảo vệ năm 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phương pháp địa chấn phản xạ là công cụ địa vật lý chủ đạo trên thế giới trong nghiên cứu cấu trúc địa chất sâu và nông nhờ khả năng phân tách rõ các ranh giới phản xạ địa chấn khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam, phương pháp địa chấn phản xạ trước đây chủ yếu được ứng dụng trong thăm dò dầu khí ở bồn trũng Sông Hồng và thềm lục địa nơi có địa hình bằng phẳng. Việc áp dụng địa chấn phản xạ 2D trên đất liền phục vụ nghiên cứu địa chất, điều tra khoáng sản ẩn sâu (than, bentonite), địa chất công trình và tai biến địa chất tại các khu vực đồi núi có địa hình và cấu trúc phức tạp còn rất hạn chế.

Tại khu vực trũng Sông Ba (Tây Nguyên) và vùng than Đông Triều – Quảng Ninh, công tác nghiên cứu cấu trúc địa chất gặp phải các khoảng trống cụ thể:

  • Tại trũng Sông Ba: Chưa có sự thống nhất về tuổi, khối lượng và chiều dày các phân vị địa tầng Kainozoi (hệ tầng Sông Ba, hệ tầng Kon Tum). Bề dày đáy bồn trầm tích Neogen chưa được xác định chính xác bằng tài liệu địa vật lý định lượng; bối cảnh kiến tạo và thời gian bắt đầu hoạt động của các đứt gãy kéo tách còn nhiều quan điểm trái chiều.
  • Tại vùng Đông Triều – Quảng Ninh: Cấu trúc móng, sự phân bố các đứt gãy sâu, đứt gãy ngang, các nếp uốn và sự liên hệ tầng chứa than ở độ sâu dưới -300 m đến -500 m còn thiếu các tài liệu tổng hợp, gây khó khăn cho việc đồng danh vỉa than và tính toán tài nguyên than.
  • Về kỹ thuật địa vật lý: Khó khăn lớn nhất khi thi công địa chấn phản xạ trên vùng đồi núi là ảnh hưởng của địa hình mấp mô và lớp vận tốc thấp (lớp phong hóa bở rời). Nếu không có phương pháp hiệu chỉnh tĩnh thích hợp và lựa chọn tham số thu nổ tối ưu (đặc biệt khi sử dụng các thiết bị ghi số có cấu hình kênh thấp), kết quả mặt cắt địa chấn sẽ bị biến dạng, dẫn đến giải thích sai cấu trúc địa chất.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu nghiên cứu được xác định rõ:

  1. Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tại khu vực có các tuyến đo địa chấn ở trũng Sông Ba và vùng Đông Triều – Quảng Ninh theo tài liệu địa chấn phản xạ 2D.
  2. Đánh giá hiệu quả, khả năng áp dụng của phương pháp địa chấn phản xạ 2D trong điều kiện địa hình và cấu trúc địa chất phức tạp tại các đối tượng nghiên cứu trên.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả thu nổ địa chấn phản xạ 2D đối với các trạm máy cấu hình thấp và trạm máy đa kênh.
  2. Nghiên cứu và xác định ảnh hưởng của địa hình, lớp vận tốc thấp đến số liệu địa chấn phản xạ 2D.
  3. Nghiên cứu áp dụng các phương pháp hiệu chỉnh tĩnh trong xử lý tài liệu địa chấn phản xạ 2D, đặc biệt là phương pháp giao thoa sóng khúc xạ trong điều kiện địa hình phức tạp.
  4. Thu thập, xử lý, phân tích và minh giải địa chất các tài liệu địa chấn phản xạ 2D để làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc địa chất tại trũng Sông Ba và vùng Đông Triều – Quảng Ninh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính xác hóa chiều sâu đáy trầm tích Neogen, liên kết với tài liệu khoan để phân chia các tập trầm tích trong Neogen của trũng Sông Ba; cấu trúc ranh giới các tập địa chấn chứa than, hệ thống đứt gãy và nếp uốn ở vùng than Đông Triều; quy trình thu nổ và kỹ thuật hiệu chỉnh tĩnh số liệu địa chấn 2D ở vùng đồi núi.
  • Phạm vi không gian: Tuyến địa chấn Krôngpa và Ayunpa thuộc đới trũng Sông Ba (Gia Lai); tuyến địa chấn tại khối Mạo Khê – Uông Bí thuộc vùng than Đông Triều – Quảng Ninh.
  • Phạm vi chiều sâu: Nghiên cứu cấu trúc địa chất nằm sát mặt đất từ độ sâu vài chục mét đến 1 km.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu địa chất tại trũng Sông Ba

  • Giai đoạn trước năm 1975: Trầm tích Neogen Tây Nguyên được ghi nhận sơ lược qua các công trình bản đồ địa chất của F. Saladin (1882, tỷ lệ 1:4.000.000), J. Fromaget (1941, tỷ lệ 1:2.000.000), E. Saurin (1930–1934, 1959, 1972) với các công trình nghiên cứu địa chất Nam Trung Bộ và Từ điển địa tầng Đông Dương; công tác đo từ hàng không tỷ lệ 1:1.000.000 của Mỹ (1967); bản đồ địa chất và kiến tạo Nam Việt Nam của Trần Kim Thạch (1974).
  • Giai đoạn sau năm 1975: Đo vẽ bản đồ địa chất miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do Nguyễn Xuân Bao chủ biên (1976–1981); loạt tờ bản đồ tỷ lệ 1:200.000 và 1:50.000 của Nguyễn Đức Thắng (1988), Trần Tính (1994), Nguyễn Văn Cường (1995), Nguyễn Quang Lộc (1998), Thân Đức Duyện (2000). Các nghiên cứu cổ sinh – địa tầng xác lập hệ tầng Sông Ba và hệ tầng Kon Tum của Trịnh Dánh (1982, 1984, 1985, 1988, 1989, 2000), Nguyễn Địch Dỹ và nnk (1980, 1987, 1995), Atlas địa tầng Việt Nam (1982), Nguyễn Đức Thái (1988), Tống Duy Thanh và Vũ Khúc (2005, 2006), Trần Văn Trị và Vũ Khúc (2009). Dự án khoan thăm dò phân tích bể ENRECA-1 (2001–2004) tại Krôngpa đạt độ sâu 500 m (480 m qua hệ tầng Sông Ba).

Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng than Đông Triều – Quảng Ninh

Các trầm tích chứa than Đông Triều – Uông Bí – Hòn Gai đã trải qua nhiều đợt khảo sát: Fuchs và Saladin (1882), R. Zeiller (xác định tuổi Trias muộn, bậc Reti), J. Fromaget, E. Patte (lập bản đồ địa chất Đông Bắc 1:200.000); Đoàn khảo sát 5 Liên Xô (1959); Đoàn Địa chất II (1951–1961); Đoàn 33 Mạo Khê với Đỗ Chí Uy (1963, 1970); Đoàn 20 với Đovjikov A. (1965, bản đồ 1:500.000 miền Bắc xác định hệ tầng Hòn Gai tuổi Nori); Lưu Khánh Dân (1970); Hoàng Văn Cân (1979); các báo cáo thăm dò của Xí nghiệp Thăm dò Than II (1986, 1988), Xí nghiệp Địa chất 906 (Phí Chí Thiện, 1994); Công ty VITE (2002, 2006, 2008, 2012) và Viện Khoa học Công nghệ Mỏ – TKV (2008).

Tình hình ứng dụng địa chấn phản xạ 2D trên đất liền ở Việt Nam

  • Giai đoạn 2005–2008: Bắt đầu áp dụng máy STRATA-VISOR 48 kênh để đo địa chấn phản xạ nông tại Đắk Tô (Dương Đức Kiêm, 2006) và ĐắkH'ring (Nguyễn Duy Bình, 2008).
  • Giai đoạn 2009–2017: Bộ Tài nguyên và Môi trường trang bị trạm địa chấn Sercel E428XL 480 kênh cho Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, ứng dụng tại Noọngbok – Lào (2010), bể than Sông Hồng (2013–2015), nghiên cứu cấu trúc lưu trữ CO2 (2016).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án tập trung giải quyết các bất cập tồn tại:

  1. Thiếu tài liệu định lượng về chiều sâu đáy bồn trũng trầm tích Neogen Sông Ba (các tài liệu trước đây qua lỗ khoan nước chỉ ước lượng 350–400 m cho hệ tầng Sông Ba và 100–200 m cho hệ tầng Kon Tum).
  2. Xử lý tài liệu địa chấn phản xạ trên vùng đồi núi bị sai lệch do địa hình và lớp phong hóa vận tốc thấp bằng phương pháp giao thoa sóng khúc xạ thay cho phương pháp truyền thống.
  3. Làm sáng tỏ hệ thống đứt gãy, cấu trúc nếp uốn và ranh giới tầng than ở độ sâu lớn tại khu mỏ Mạo Khê – Tràng Bạch thuộc vùng Đông Triều.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết truyền sóng và nguồn phát

Luận án dựa trên lý thuyết đàn hồi truyền sóng địa chấn trong môi trường phân lớp và phương pháp phản xạ điểm sâu chung (ĐSC / CMP).

Khi kích nổ thuốc nổ trong lỗ khoan, quá trình chuyển hóa năng lượng tạo ra đới phá hủy và đới biến dạng dư (gọi chung là đới biến dạng dẻo). Bán kính vùng biến dạng dẻo quanh quả nổ ($a$) tuân theo quy luật: $$a = k \cdot Q^{1/3}$$ Trong đó:

  • $Q$: Khối lượng thuốc nổ (kg).
  • $k$: Hệ số tỷ lệ đặc trưng cho tính chất cơ lý của đất đá ($k = 1 \div 1{,}5$ đối với đá cứng).

Nghiên cứu chỉ ra rằng biên độ sóng tỷ lệ thuận với bán kính nguồn $a$ và tỷ lệ nghịch với mật độ cũng như vận tốc truyền sóng của môi trường. Gây sóng bằng quả nổ có khối lượng nhỏ trong môi trường dẻo, ngậm nước cho hiệu suất chuyển hóa năng lượng cao hơn và bảo toàn thành phần tần số cao, giúp tăng độ phân giải của mặt cắt địa chấn.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu nổ thực địa

  • Thực nghiệm chọn độ sâu phát sóng ($h$): Thử nghiệm tại các độ sâu $h = 0\text{ m}$, $1{,}4\text{ m}$, $3\text{ m}$, và $6\text{ m}$ với lượng thuốc nổ cố định 200 g. Kết quả chọn $h = 6\text{ m}$ (dưới đáy lớp bở rời phong hóa) nhằm giảm suy giảm năng lượng và triệt tiêu sóng âm trong không khí.
  • Thực nghiệm chọn khối lượng thuốc nổ ($Q$): Thử nghiệm các khối lượng $50\text{ g}$, $100\text{ g}$, $200\text{ g}$, và $300\text{ g}$ trong các hố khoan mới. Kết quả xác định $Q = 300\text{ g}$ đảm bảo tỷ số tín hiệu trên nhiễu (S/N) tối ưu ở các khoảng cách thu nổ xa ($offset$ lớn).
  • Hệ thống quan sát: Xác định khoảng cách máy thu $\Delta x$, khoảng quan sát gần nhất ($X_{min}$ - cửa sổ dập nhiễu sóng mặt) và xa nhất ($X_{max}$), cùng chiều dài chặng máy $L = \Delta x \cdot (S - 1)$ ($S$ là số kênh trạm máy).

Phương pháp xử lý số liệu và hiệu chỉnh tĩnh

  • Mô hình hóa truyền sóng lý thuyết: Xây dựng mô hình vận tốc RMS và mô phỏng băng sóng tổng hợp với số lượng kênh thu khác nhau (60 kênh, 120 kênh, 240 kênh) đối với tuyến Đông Triều.
  • Kỹ thuật hiệu chỉnh tĩnh bằng phương pháp giao thoa sóng khúc xạ (Refraction Interferometry): Tính toán thời gian trễ và mô hình vận tốc lớp khúc xạ theo RCS và RVS, liên kết cộng sóng đầu để xác định chính xác giá trị hiệu chỉnh tĩnh tại từng vị trí điểm nổ và máy thu, khắc phục sai số do địa hình mấp mô và lớp vận tốc thấp gây ra.
  • Chu trình xử lý 2D chuẩn: Lọc nhiễu liên kết, lọc tần số F-K, phân tích vận tốc, hiệu chỉnh động (NMO), cộng ĐSC (Stacking) và chuyển dịch thời gian/chiều sâu (Migration).
Tham số / Thiết bị Tuyến đo tại trũng Sông Ba Tuyến đo tại Đông Triều – Quảng Ninh
Trạm máy địa chấn STRATA-VISOR ghi số Sercel E428XL ghi số
Số kênh hoạt động 48 kênh 410 kênh (mô hình hóa 60–240 kênh)
Khoảng cách máy thu ($\Delta x$) 5 m 10 m – 20 m
Chiều dài cáp thu / chặng máy 235 m Thay đổi theo thiết kế tuyến đa kênh
Nguồn phát sóng Thuốc nổ hố khoan ($h = 6\text{ m}$, $Q = 300\text{ g}$) Thuốc nổ hố khoan
Cửa sổ dập nhiễu ($X_{min}$) 120 m Theo mô hình phân lớp thực tế
Bội quan sát (Fold) 12 lần Bội cao đa kênh
Phương pháp hiệu chỉnh tĩnh Giao thoa sóng khúc xạ Giao thoa sóng khúc xạ & Thời gian tương hỗ

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan đặc điểm địa chất trũng Sông Ba và vùng Đông Triều – Quảng Ninh

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các điều kiện địa chất, cấu trúc kiến tạo và địa tầng của hai khu vực nghiên cứu:

1. Trũng Sông Ba

Trũng Sông Ba phân bố dọc theo thung lũng sông Ba, cắt qua địa phận 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên với diện tích lưu vực khoảng 13.000 km². Cấu trúc địa chất bồn trũng gồm các thành tạo:

  • Địa tầng:
    • Hệ tầng Mang Yang ($T_2 my$): Gồm 4 tập thạch học (cuội sạn kết hỗn hợp, phun trào felsic anđesitođacit - ryolit, cát kết sa khoáng xen đá phiến sét chứa hóa thạch Podozamites, Cycadolepis, cuội sạn kết phân dải); chiều dày 285–880 m.
    • Hệ tầng Đơn Dương ($K_2 dd$): Dày 250–400 m, gồm cuội kết, cát kết tuf và phun trào ryođacit, ryolit.
    • Hệ tầng Sông Ba ($N_1^3 sb$): Mặt cắt đặc trưng dày khoảng 500 m (suối Ea Theo) đến 800 m (đông bắc Cheo Reo), chia làm 4 tập: Tập 1 (cuội kết, tảng kết cơ sở); Tập 2 (sạn kết thạch anh felspat); Tập 3 (cuội kết mài tròn tốt); Tập 4 (cát kết, sạn kết gắn kết yếu).
    • Hệ tầng Kon Tum ($N_1 kt$): Phân bố ở Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột; dày 110–116 m tại mặt cắt chuẩn suối Đắk Lắk, gồm 3 tập cát sạn kết, sét diatomit xen kẽ các lớp basalt lỗ hổng và basalt đặc sít.
  • Magma xâm nhập: Phức hệ Đèo Cả ($\gamma\delta-\gamma\xi-\gamma K dc$) gồm 3 pha granomonzonit, granosyenit, granit và pha đá mạch pegmatit; Phức hệ Vân Canh ($\gamma\delta-\gamma\xi-\gamma T_2 vc$) gồm 3 pha granođiorit, granosyenit, granit hạt vừa đến thô.
  • Kiến trúc sâu và đứt gãy: Chiều sâu mặt Moho đạt 35–38 km, mặt Conrad sâu 16–17 km. Ba đới đứt gãy khu vực chiếm ưu thế: đới đứt gãy Sông Ba (phương TB–ĐN, dài trên 400 km, tạo địa hào Miocen), đới đứt gãy M'Drăk – An Khê (rộng >15 km, dài >40 km phương kinh tuyến, trượt bằng phải), đới đứt gãy Sơn Hoà – Vĩnh Thạnh (dài >120 km).

2. Vùng than Đông Triều – Quảng Ninh

Thuộc khối Mạo Khê – Uông Bí trong bể than Đông Bắc:

  • Địa hình: Phân chia thành địa hình đồi núi thấp dạng bát úp (độ cao 20–40 m, sườn dốc 10–20°) và địa hình núi cao (đỉnh Cổ Yếm cao 514 m, sườn dốc 40–50°).
  • Địa tầng chứa than – Hệ tầng Hòn Gai ($T_3n-r hg$):
    • Phụ hệ tầng Hòn Gai dưới ($T_3n-r hg_1$): Dày khoảng 600 m, thạch học gồm bột kết, cát kết, sạn kết, đá sét màu xám sáng đến xám đen, tiếp xúc bất chỉnh hợp với hệ tầng Đèo Bụt ($P_1-P_2^1 db$).
    • Phụ hệ tầng Hòn Gai giữa ($T_3n-r hg_2$): Phân bố rộng khắp, là đối tượng chứa than chính, chia thành 3 tầng: tầng chứa than dưới ($V_{1-6}$), tầng chứa than giữa ($V_{7-11}$ - chất lượng tốt nhất), tầng chứa than trên (từ vách $V_{12}$ trở lên).
    • Phụ hệ tầng Hòn Gai trên ($T_3n-r hg_3$): Trầm tích hạt thô, cát kết, bột kết sáng màu phân bố ở rìa bắc dãy núi Mạo Khê – Uông Bí.
    • Trầm tích Đệ tứ ($Q$): Bở rời, chiều dày 5–50 m phủ trên mặt.
  • Cấu trúc kiến tạo:
    • Nếp uốn: Phức nếp lồi Mạo Khê – Tràng Bạch (kéo dài 10 km phương Đ–T, cánh bắc thoải 20–25°, cánh nam dốc đứng 40–70°); Nếp lõm Trung Lương (dài 15 km phương Đ–T).
    • Hệ thống đứt gãy: Đứt gãy nghịch $F_A$ (cắm bắc, dốc 70–80°, đới phá hủy 50–100 m); đứt gãy trượt bằng $F_{TB}$ (cắm ĐB, dốc 70–80°, biên độ trượt mặt 90–120 m, trượt ngang 220–500 m); đứt gãy $F_B$ (cắm bắc, dốc 60–75°, ngăn cách phụ hệ tầng dưới và giữa); đứt gãy thuận $F_{129}$ / $F_1$ (cắm ĐB, trượt mặt 300–350 m, dịch ngang 250–500 m); đứt gãy $F_{129-2}$ / $F_2$ (trượt mặt 70–100 m); đứt gãy $F_{11}$ (cắm bắc, dốc 70–75°, trượt dốc 100–250 m) và $F_{15}$ (cắm đông, trượt dốc ~50 m).

Chương 2: Nghiên cứu nâng cao hiệu quả thu nổ, xử lý địa chấn phản xạ 2D tại trũng Sông Ba và vùng Đông Triều – Quảng Ninh

Chương 2 trình bày các giải pháp kỹ thuật công nghệ được nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng thực tế:

1. Xác lập tham số thu nổ tối ưu với máy STRATA-VISOR 48 kênh tại trũng Sông Ba

  • Lựa chọn nguồn nổ trong hố khoan ngậm nước sâu 6 m: giảm thiểu tổn hao năng lượng do phá hủy cơ học đất đá bở rời bề mặt, tăng biên độ sóng phản xạ và triệt tiêu sóng âm.
  • Lựa chọn khối lượng thuốc nổ $Q = 300\text{ g}$: cân bằng giữa biên độ sóng phản xạ ở các kênh thu xa và việc hạn chế nhiễu liên kết.
  • Xác định khoảng cách máy thu $\Delta x = 5\text{ m}$, chiều dài chặng máy $235\text{ m}$, khoảng cách dập nhiễu $X_{min} = 120\text{ m}$, đạt bội quan sát 12 lần.

2. Mô hình hóa và tham số thu nổ tại vùng Đông Triều – Quảng Ninh

  • Sử dụng trạm địa chấn Sercel E428XL đa kênh.
  • Xây dựng mô hình mặt cắt địa chất - địa chấn tổng hợp từ các tuyến địa chất tuyến V, IX, XI, XVII khối Mạo Khê – Uông Bí.
  • Mô phỏng tính toán truyền sóng lý thuyết với các quả nổ giả định ở đầu tuyến, giữa tuyến và cuối tuyến. So sánh băng sóng lý thuyết 60 kênh, 120 kênh và 240 kênh để lựa chọn cấu hình thu nổ thực địa phù hợp với địa hình phân cắt mạnh.

3. Phương pháp xử lý hiệu chỉnh tĩnh bằng giao thoa sóng khúc xạ

  • Luận án phân tích chi tiết bản chất của sai số do đới tốc độ thấp (TĐT) và địa hình nhấp nhô gây ra sự lệch pha, gián đoạn liên kết các trục đồng pha trên băng sóng phản xạ.
  • Ứng dụng kỹ thuật giao thoa sóng khúc xạ (Refraction Interferometry) để trích xuất hàm Green của sóng khúc xạ từ chính các bản ghi địa chấn thực tế.
  • Xây dựng mô hình vận tốc lớp phủ gần mặt đất, tính toán giá trị hiệu chỉnh tĩnh (ms) độc lập cho từng vị trí điểm nổ và máy thu trên các tuyến Ayunpa, Krôngpa và Đông Triều.
  • So sánh kết quả: Phương pháp giao thoa khúc xạ phục hồi liên tục các trục đồng pha của ranh giới phản xạ dưới sâu, vượt trội so với phương pháp thời gian tương hỗ truyền thống trên các mặt cắt phức tạp.

Chương 3: Một số đặc điểm cấu trúc địa chất ở trũng Sông Ba và vùng Đông Triều – Quảng Ninh theo tài liệu địa chấn phản xạ

Chương 3 tổng hợp các kết quả minh giải địa chất từ các mặt cắt địa chấn phản xạ 2D sau khi đã được xử lý và hiệu chỉnh tĩnh:

1. Cấu trúc địa chất trũng Sông Ba theo tài liệu địa chấn phản xạ

Trên hai mặt cắt địa chấn tuyến Krôngpa (Tuyến 2) và tuyến Ayunpa (Tuyến 1), thông qua phân tích các mối quan hệ địa chấn địa tầng (dạng bất chỉnh hợp gá đáy, chống nóc, bao bọc), luận án xác định 4 ranh giới phản xạ chính ($R_1, R_2, R_3, R_4$):

  • Xác định chiều sâu đáy Neogen: Tại khu vực Krôngpa, ranh giới đáy trầm tích Neogen ($R_1$) được xác định ở độ sâu lớn, có nơi đạt trên 800 m. Hình thái mặt đáy móng lồi lõm, gồ ghề phức tạp do hoạt động của các đứt gãy kéo tách đồng trầm tích.
  • Phân chia các tập trầm tích:
    • Tập trầm tích dưới: Đặc trưng bởi các pha sóng phản xạ phân lớp kém liên tục, tần số biến đổi, tương ứng với tập cát kết, bột kết xen kẽ sạn kết, cuội kết cơ sở và các thấu kính than nâu mỏng.
    • Tập trầm tích trên: Các trục đồng pha phản xạ thể hiện tính phân lớp tốt hơn, biên độ ổn định, tương ứng với các lớp sét kết diatomit, cát kết hạt mịn và bột kết thuộc phần trên của hệ tầng Sông Ba và hệ tầng Kon Tum.

2. Cấu trúc địa chất vùng than Đông Triều theo tài liệu địa chấn phản xạ

Minh giải địa chấn trên các tuyến đo tại khu vực Mạo Khê – Tràng Bạch đã làm sáng tỏ:

  • Ranh giới các tập địa chấn chứa than: Bóc tách ranh giới tiếp xúc giữa phụ hệ tầng Hòn Gai dưới ($T_3n-r hg_1$) và phụ hệ tầng Hòn Gai giữa ($T_3n-r hg_2$), khoanh định các dải phản xạ tương ứng với tầng chứa than có chất lượng cao ($V_{7-11}$).
  • Hệ thống đứt gãy khống chế: Xác định chính xác vị trí trong không gian, góc dốc và biên độ dịch chuyển của các đứt gãy kiến tạo:
    • Đứt gãy nghịch $F_A$ cắm bắc với đới phá hủy rộng.
    • Đứt gãy trượt bằng $F_{TB}$ gây dịch chuyển ngang các vỉa than từ 220 m đến 500 m.
    • Đứt gãy $F_B$ đóng vai trò ranh giới cấu trúc địa mạo - kiến tạo phía nam.
    • Các đứt gãy thuận $F_{129}$ ($F_1$), $F_{129-2}$ ($F_2$), $F_{11}$, $F_{15}$ phân cắt tầng than thành các khối cấu trúc riêng biệt.
  • Cấu trúc uốn nếp: Làm rõ hình thái phi đối xứng của phức nếp lồi Mạo Khê – Tràng Bạch và nếp lõm Trung Lương, cung cấp bức tranh cấu trúc phục vụ thiết kế công trình khai thác mỏ hầm lò xuống sâu dưới mức -300 m.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  1. Chính xác hóa chiều sâu đáy bồn trầm tích Neogen Sông Ba: Lần đầu tiên bằng phương pháp địa chấn phản xạ 2D, luận án đã xác định được bề mặt móng kết tinh / đáy trầm tích Neogen tại khu vực Krôngpa có chiều sâu đạt trên 800 m với hình thái lồi lõm phức tạp. Kết quả này cung cấp luận cứ định lượng cho nghiên cứu trầm tích luận các thành tạo Neogen Tây Nguyên theo xu hướng phân tích bồn trầm tích (Sedimentary Basin Analysis) và bối cảnh kiến tạo kéo tách Kainozoi.
  2. Khẳng định hiệu quả của phương pháp giao thoa sóng khúc xạ trong hiệu chỉnh tĩnh: Luận án chứng minh phương pháp giao thoa sóng khúc xạ là giải pháp tối ưu để xử lý hiệu chỉnh tĩnh số liệu địa chấn phản xạ 2D trong điều kiện địa hình đồi núi phân cắt mạnh và lớp vận tốc thấp biến đổi phức tạp; thiết lập quy trình xử lý thực nghiệm phù hợp với điều kiện địa chất Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Làm sáng tỏ cấu trúc bể than Đông Triều phục vụ khai thác: Chính xác hóa vị trí, góc dốc, biên độ dịch chuyển của hệ thống đứt gãy ($F_A, F_{TB}, F_B, F_{129}, F_{11}, F_{15}$) và cấu trúc uốn nếp ở phần sâu vùng mỏ Mạo Khê – Tràng Bạch, hỗ trợ công tác đồng danh vỉa than và giảm thiểu rủi ro cho các công trình khai thác hầm lò.
  2. Khả năng nhân rộng quy trình kỹ thuật: Mở ra khả năng áp dụng phương pháp địa chấn phản xạ 2D trên đất liền (vốn chiếm ¾ diện tích là đồi núi tại Việt Nam) phục vụ điều tra đánh giá tài nguyên khoáng sản ẩn sâu (than, bentonite), khảo sát nền móng công trình và đánh giá tai biến trượt lở đất, kiến tạo trẻ đến độ sâu 1.000 m theo chiến lược điều tra cơ bản địa chất của Chính phủ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khối lượng tuyến đo địa chấn phản xạ còn mang tính cục bộ (hai tuyến Krôngpa và Ayunpa tại trũng Sông Ba; một số tuyến tại vùng Mạo Khê – Uông Bí) do giới hạn về kinh phí và địa hình thi công.
    • Thiết bị sử dụng ở giai đoạn đầu tại trũng Sông Ba (máy 48 kênh) có cấu hình thấp, độ phân giải và chiều dài chặng máy bị giới hạn so với trạm máy đa kênh.
    • Số lượng lỗ khoan sâu khống chế đáy móng tại các vị trí sâu trên 800 m ở trũng Sông Ba còn ít để đối sánh toàn diện với toàn bộ các ranh giới địa chấn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục phát triển mạng lưới tuyến đo địa chấn phản xạ 2D và 3D đa kênh trên toàn bộ bồn trũng Sông Ba và các bồn trũng Neogen lân cận ở Tây Nguyên.
    • Bổ sung các công trình khoan sâu kiểm chứng địa tầng tại các trũng sâu >800 m để chính xác hóa cột địa tầng trầm tích luận.
    • Ứng dụng quy trình thu nổ và hiệu chỉnh tĩnh bằng giao thoa sóng khúc xạ cho các bể than và vùng khoáng sản ẩn sâu khác trên toàn quốc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Địa vật lý, Địa chất học, Trầm tích luận và Địa chất mỏ; đặc biệt là phương pháp thiết kế tham số thu nổ thực nghiệm và quy trình hiệu chỉnh tĩnh địa chấn 2D bằng giao thoa sóng khúc xạ ở Chương 2.
  • Kỹ sư địa vật lý và địa chất công trình: Tham khảo quy trình lựa chọn lượng thuốc nổ, độ sâu đặt nguồn, khoảng cách máy thu và dập nhiễu sóng mặt khi sử dụng thiết bị đo địa chấn ghi số đa kênh hoặc cấu hình thấp.
  • Các đơn vị sản xuất và cơ quan quản lý: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản trong công tác quy hoạch thăm dò than phần sâu ở bể than Đông Bắc và đánh giá bồn trầm tích Kainozoi Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

1. Chiều sâu đáy trầm tích Neogen tại trũng Sông Ba (khu vực Krôngpa) được xác định trong luận án là bao nhiêu và có ý nghĩa gì?

Theo kết quả phân tích mặt cắt địa chấn phản xạ tuyến 2 (Krôngpa), đáy trầm tích Neogen ($R_1$) được xác định có chiều sâu đạt trên 800 m với hình thái lồi lõm phức tạp. Kết quả này thay đổi các quan niệm trước đây (vốn chỉ dựa vào vết lộ hoặc lỗ khoan nước nông ước tính bề dày hệ tầng Sông Ba khoảng 350–400 m), cung cấp cơ sở định lượng quan trọng cho công tác phân tích bồn trầm tích Neogen Tây Nguyên.

2. Bộ tham số thu nổ thực nghiệm tối ưu được lựa chọn cho máy STRATA-VISOR 48 kênh tại trũng Sông Ba gồm những gì?

Qua các thử nghiệm thực địa, luận án lựa chọn:

  • Độ sâu đặt quả nổ trong hố khoan: $h = 6\text{ m}$ (nằm dưới lớp bở rời phong hóa).
  • Khối lượng thuốc nổ: $Q = 300\text{ g}$.
  • Khoảng cách máy thu: $\Delta x = 5\text{ m}$.
  • Chiều dài chặng máy: $L = 235\text{ m}$.
  • Cửa sổ dập nhiễu sóng mặt ($X_{min}$): $120\text{ m}$.
  • Bội quan sát (Fold): 12 lần.

3. Tại sao phương pháp giao thoa sóng khúc xạ lại vượt trội trong hiệu chỉnh tĩnh ở vùng đồi núi?

Ở vùng đồi núi, địa hình thay đổi mạnh và lớp phong hóa bề mặt có vận tốc thấp biến thiên phức tạp cả về bề dày lẫn tốc độ truyền sóng, làm méo mó các trục đồng pha sóng phản xạ sâu. Phương pháp giao thoa sóng khúc xạ trích xuất hàm Green trực tiếp từ sóng khúc xạ đầu, cho phép dựng mô hình vận tốc lớp gần mặt đất chính xác mà không phụ thuộc vào các giả định đơn giản hóa như phương pháp thời gian tương hỗ, giúp phục hồi liên tục các phản xạ địa chấn dưới sâu.

4. Hệ tầng Hòn Gai tại vùng than Đông Triều được phân chia như thế nào và tầng nào có giá trị kinh tế nhất?

Hệ tầng Hòn Gai ($T_3n-r hg$) tại khu mỏ Tràng Bạch – Mạo Khê được phân chia thành 3 phụ hệ tầng:

  1. Phụ hệ tầng Hòn Gai dưới ($T_3n-r hg_1$): Dày khoảng 600 m, chủ yếu là bột kết, cát kết, ít than.
  2. Phụ hệ tầng Hòn Gai giữa ($T_3n-r hg_2$): Chứa 3 tầng than (dưới $V_{1-6}$, giữa $V_{7-11}$, trên từ $V_{12}$ trở lên). Trong đó, tầng chứa than giữa ($V_{7-11}$) tập trung các vỉa than có chất lượng công nghiệp tốt nhất.
  3. Phụ hệ tầng Hòn Gai trên ($T_3n-r hg_3$): Trầm tích lục nguyên hạt thô sáng màu.

5. Tài liệu địa chấn phản xạ tại vùng Đông Triều đã làm rõ những hệ thống đứt gãy chính nào?

Tài liệu địa chấn 2D đã làm rõ các đứt gãy lớn gồm: đứt gãy nghịch $F_A$ (cắm bắc, góc dốc 70–80°, đới phá hủy 50–100 m); đứt gãy trượt bằng $F_{TB}$ (cắm ĐB, góc dốc 70–80°, dịch chuyển ngang 220–500 m); đứt gãy $F_B$ (cắm bắc, dốc 60–75° phân tách phụ hệ tầng dưới và giữa); đứt gãy thuận $F_{129}$ (trượt dốc 300–350 m, trượt ngang 250–500 m); đứt gãy $F_{129-2}$ (trượt dốc 70–100 m); đứt gãy $F_{11}$ (trượt dốc 100–250 m) và đứt gãy $F_{15}$ (cắm đông, trượt dốc ~50 m).


Kết luận

Luận án của NCS. Nguyễn Duy Bình đã giải quyết thành công bài toán kỹ thuật thu nổ và xử lý hiệu chỉnh tĩnh tài liệu địa chấn phản xạ 2D bằng phương pháp giao thoa sóng khúc xạ trong điều kiện địa hình đồi núi phức tạp tại Việt Nam. Công trình đã xác định chính xác chiều sâu đáy trầm tích Neogen trũng Sông Ba tại khu vực Krôngpa đạt trên 800 m và làm sáng tỏ hệ thống đứt gãy, nếp uốn khống chế các tầng than thuộc hệ tầng Hòn Gai ở vùng mỏ Đông Triều – Quảng Ninh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu trầm tích luận, điều tra đánh giá khoáng sản ẩn sâu và quy hoạch khai thác địa chất mỏ.