Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu nhiễm khuẩn huyết 1. Khái niệm nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn Năm 2016, tại Hội nghị Đồng thuận Quốc tế được triệu tập bởi Hiệp hội hồi sức Hoa Kỳ và Hiệp hội hồi sức Châu Âu đã thống nhất đưa đến định nghĩa như sau: Nhiễm khuẩn huyết: Tình trạng rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do đáp ứng không được điều phối của cơ thể đối với nhiễm khuẩn (1). Sốc nhiễm khuẩn là một phân nhóm nặng của NKH trong đó suy tuần hoàn và bất thường về chuyển hoá tế bào có nguy cơ tử vong cao hơn so với NKH đơn thuần.
Bệnh nhân bị sốc nhiễm khuẩn có thể được xác định trên lâm sàng bằng thuốc vận mạch để duy trì áp lực động mạch trung bình từ 65 mm Hg trở lên và mức lactate huyết thanh lớn hơn 2 mmol/L (> 18 mg / dL) trong trường hợp không có giảm thể tích tuần hoàn (1). Các yếu tố nguy cơ Những người có nguy cơ bị NKH cao hơn bao gồm: Người cao tuổi trên 65 tuổi trở lên; người mắc bệnh mạn tính như bệnh tiểu đường, ung thư, bệnh phổi, bệnh thận…; người bị suy giảm hệ thống miễn dịch hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch; người bị bệnh nặng gần đây hoặc có tiền sử nhập viện; trẻ em dưới một tuổi…(13). Nguyên nhân Các vi sinh vật gồm virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng xâm nhập vào máu là nguyên nhân gây ra NKH. Vi khuẩn là tác nhân gây bệnh được biết đến sớm nhất và chiếm tỷ lệ cao nhất.
Tỷ lệ NKH do nấm đã tăng lên trong thập kỉ qua nhưng vẫn thấp hơn nhiều NKH do vi khuẩn (13). Với vi khuẩn, cả vi khuẩn gram dương và gram âm đều có thể gây NKH. Những vi khuẩn gram âm thường gặp là họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacterales), P. aeruginosa, Acinetobacter spp… Trong nhóm vi khuẩn gram dương, S.
aureus, Streptococci, Enterococci là những loài hay gặp (2). Cơ chế bệnh sinh 15 1. Nguồn nhiễm khuẩn Nguồn nội mạch: Viêm màng trong tim, viêm lỗ thông động tĩnh mạch, tiêm chích…(14). Nguồn ngoại mạch: Từ nội soi, phẫu thuật những ổ nhiễm khuẩn, kể cả phẫu thuật vô trùng, từ ống dẫn lưu, ống nội khí quản, máy thở, máy chạy thận nhân tạo…Từ các ổ nhiễm khuẩn sâu: Viêm thận, bể thận, viêm phổi, viêm tử cung, áp xe ruột thừa.
Từ ổ nhiễm khuẩn nông: vết thương, bỏng, nhọt, đinh râu, hậu bối, viêm họng…(14). Cơ chế bệnh sinh Vi khuẩn vượt qua hàng rào bảo vệ quanh ổ nhiễm khuẩn ngoại mạch (bao gồm: đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính, kháng thể, bổ thể…); từ nguồn nhiễm khuẩn ngoại mạch vi khuẩn theo đường bạch huyết vượt qua hạch khu vực (14). Ở trong máu: Đại thực bào của gan, lách thực bào vi khuẩn, vi khuẩn (tạo opsonin bởi IgG) bị loại trừ đầu tiên ở lách; hoặc vi khuẩn được gắn vào bổ thể C3b bị loại trừ trước tiên ở gan (14). NKH xảy ra khi sức đề kháng cục bộ giảm sút (hoạt động thực bào của bạch cầu hạt và của đại thực bào bạch huyết) và khi sức đề kháng toàn cơ thể suy giảm (hoạt động IgG, C3b giảm sút… là chất chất có vai trò opsonin giúp cho quá trình thực bào của các đại thực bào gan và lách).
Khi vi khuẩn và nội độc tố có mặt trong máu, cơ thể tổng hợp các cytokine từ 30 đến 90 phút trước khi có cơn sốt cao (14). Lâm sàng và cận lâm sàng 1. Lâm sàng Các biểu hiện lâm sàng trên bệnh nhân NKH không đặc hiệu do những bệnh lý khác có thể có biểu hiện tương tự. Các triệu chứng và dấu hiệu của NKH nhưng có thể bao gồm: - Sốt, biểu hiện có thể là sốt nóng > 38,3 ºC hoặc sốt lạnh <36ºC; - Hạ huyết áp động mạch (ví dụ huyết áp tâm thu <90mmHg, huyết áp động mạch trung bình <70mmHg); - Nhịp tim nhanh > 90 nhịp/ phút hoặc hơn 2 độ lệch chuẩn so với giá trị bình thường theo tuổi; 16 - Khó thở, nhịp thở > 20 nhịp/ phút; - Các dấu hiệu tràn dịch cơ quan: da nóng, đỏ bừng (thường xuất hiện trong giai đoạn đầu của NKH); các dấu hiệu giảm tưới máu (thay đổi tinh thần, khó chịu bồn chồn, thiểu niệu hoặc vô niệu, da tím tái…); giảm hay không có âm ruột (13).
Biến chứng của NKH có thể là: Sốc nhiễm khuẩn; suy đa tạng (2). Cận lâm sàng Sự thay đổi các chỉ số: Tăng bạch cầu (> 12 G/l) hoặc giảm bạch cầu (< 4 G/l); xuất hiện bạch cầu non máu ngoại vi; bất thường về chỉ số đông máu (INR> 1,5 hoặc APTT > 60 giây); giảm tiểu cầu; tăng đường huyết (> 7,7 mmol / L) trong trường hợp không mắc bệnh tiểu đường; protein phản ứng C tăng; giảm oxy máu động mạch; thiểu niệu cấp (lượng nước tiểu < 0,5mL/kg/ giờ trong ít nhất hai giờ mặc dù đã được truyền dịch đầy đủ); tăng creatinine > 0,5mg/dL hoặc 44,2 µmol/L; tăng bilirubin máu (bilirubin toàn phần huyết tương >4mg/dL); procalcitonin huyết tương lệch chuẩn hơn hai giá trị bình thường; hạ natri máu; tăng kali máu; lactate máu tăng cao…(13). Nguyên tắc điều trị Nguyên tắc trong điều trị NKH là: Tiến hành dùng kháng sinh liều cao ngay khi nghĩ đến NKH; điều trị đủ liều, đủ thời gian, phối hợp kháng sinh (nếu cần); cần thay đổi, phải điều chỉnh kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ, hiệu quả điều trị (2). Tình hình nhiễm khuẩn huyết 1.
Trên thế giới Trong báo cáo toàn cầu của WHO, mỗi năm trên thế giới có khoảng 49 triệu ca NKH và 11 triệu trường hợp tử vong liên quan đến NKH, chiếm tới 20% tổng số ca tử vong trên toàn cầu (15). Chi phí điều trị NKH là vô cùng tốn kém, trung bình là hơn 32000 đô la trên mỗi người bệnh (15). WHO ước tính khoảng 40% bệnh nhân NKH phải tái nhập viện trong vòng 90 ngày xuất viện, làm tăng gánh nặng NKH với cá nhân và xã hội (15). 17 Tỷ lệ NKH và tử vong khác nhau giữa các khu vực, cao nhất ở Châu Phi, Châu Đại Dương, Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á (16).
Tại Hoa Kỳ, mỗi năm bệnh viện tiếp nhận hơn 970.000 trường hợp NKH và tiếp tục tăng lên qua từng năm, chiếm hơn 50% số ca tử vong tại bệnh viện (4). Châu Âu có 3,4 triệu người NKH, là nguyên nhân của gần 700000 ca tử vong hằng năm (17). Châu Phi ước tính khoảng 17 triệu trường hợp mắc và 3,5 triệu người tử vong năm 2017 (18). Tại Châu Á, tỷ lệ NKH ở khu vực này dao động từ 120 đến 1 600 trên 100 000 dân, tỷ lệ tử vong đến 35% cao hơn nhiều so với các nước Châu Âu và các nước có thu nhập cao (19).
Tại Việt Nam Tại Việt Nam, NKH xếp vị trí thứ ba trong số các loại nhiễm khuẩn bệnh viện, trung bình số ngày lưu viện cho các ca NKH là 24,3 ngày với tổng chi phí phát sinh tới 32,2 triệu đồng (7). Nhiều nghiên cứu trên cả nước của nhiều tác giả đã công bố số liệu về tỷ lệ NKH. Theo tác giả Quế Anh Trâm, tỷ lệ cấy máu dương tính là 13,82% tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An; nghiên cứu khác của tác giả Lê Thị Thu Nguyệt, tỷ lệ NKH tại khoa hồi sức tích cực là 6.1/1000 người bệnh trên ngày (8). Theo tác giả Trần Ngọc Ánh khảo sát trên 150 bệnh nhân chẩn đoán NKH tại Bệnh viện 103 cho thấy tỷ lệ cấy máu dương tính là 67,3% (7).
Về nhóm tuổi, tại Bệnh viện Chợ Rẫy (2016) cho thấy tỷ lệ NKH cao nhất ở nhóm tuổi trên 60 (49,6%), sau đến là nhóm 30 – 60 tuổi (38,6%) (20). Tại Bệnh viện Nhiệt Đới Trung Ương, tỷ lệ NKH cao nhất lại gặp ở nhóm tuổi 40-60 tuổi (46,94%) (21). Tác giả Nguyễn Thế Hưng cũng cho kết quả tương tự tỷ lệ NKH cao ở nhóm tuổi 40-60 tuổi (22). Về giới tính, tỷ lệ NKH nhìn chung ở nam cao hơn so với nữ như theo công bố của một số tác giả: Theo Lê Hùng Phong và cộng sự tỷ lệ nam/nữ là 1,8/1; theo Trần Thu Hà và cộng sự tỷ lệ này là 1,1 : 1; theo Trương Vinh Long tỷ lệ ở giới nam là 75,51% cao hơn nữ 24,49% và tác giả Nguyễn Thế Hưng báo cáo tỷ lệ nam là 75,51% cao hơn so với nữ giới 24,49% (20–22).
Xét nghiệm phát hiện nhiễm khuẩn huyết và kháng sinh đồ 1. Xét nghiệm phát hiện nhiễm khuẩn huyết Hiện nay, trong phòng xét nghiệm có hai phương pháp dùng để phát hiện sự hiện diện vi khuẩn trong máu là : PCR đa mồi nhiễm khuẩn huyết và nuôi cấy phân lập vi khuẩn. Xét nghiệm PCR đa mồi nhiễm khuẩn huyết PCR đa mồi NKH là xét nghiệm phát hiện DNA vi khuẩn hay nấm trong mẫu máu của bệnh nhân, có thể phát hiện nhiều mầm bệnh khác nhau cùng lúc. So với phương pháp nuôi cấy máu cho kết quả từ 24-48 giờ, xét nghiệm PCR cho kết quả nhanh chóng hơn với độ nhạy, độ đặc hiệu được đánh giá là cao hơn (23,24).
Nhược điểm của phương pháp này là giá thành cao nên chưa phổ biến trong các phòng xét nghiệm thường quy như xét nghiệm nuôi cấy máu. Vì vậy cấy máu hiện vẫn là xét nghiệm phổ biến tại các phòng xét nghiệm để chẩn đoán bệnh nhân nghi ngờ NKH. Xét nghiệm nuôi cấy phân lập bệnh phẩm máu Cấy máu dương tính hiện đang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán NKH. Với mỗi người bệnh nên cấy 02 mẫu máu ở hai vị trí khác nhau để tăng khả năng phát hiện vi sinh vật trong máu (2).
Có nhiều quy trình và hướng dẫn cho xét nghiệm nuôi cấy phân lập bệnh phẩm máu. Tuy nhiên, đa số các phòng xét nghiệm hiện đại sử dụng các hệ thống ủ và phát hiện tự động, bởi vì hiệu quả cao hơn, thời gian ủ ngắn hơn so với phương pháp cấy máu thủ công (8). Kháng sinh đồ Kháng sinh đồ là kỹ thuật xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh in vitro (thử nghiệm trong phòng xét nghiệm) (25). Có hai kỹ thuật dựa trên hai nguyên lý khác nhau trong thực hành kháng sinh đồ: Kỹ thuật khoanh giấy kháng sinh khuếch tán nhằm định tính và Kỹ thuật pha loãng kháng sinh trong môi trường lỏng hoặc đặc nhằm định lượng (25).
Tổng quan căn nguyên nhiễm khuẩn huyết 1. Đặc điểm một số vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp 1. coli thành viên họ trực khuẩn đường ruột (Enterobacterales). Nó là trực khuẩn gram âm, có lông và di động được, phát triển dễ trên môi trường nuôi cấy thông thường.
coli có khả năng lên men nhiều loại đường và có khả năng sinh hơi. coli trên thạch UTI và thạch máu Khả năng gây bệnh: E.