Chương 1 TỔNG QUAN 1.Giải phẫu đường thở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giải phẫu đường thở [15] (Nguồn từ tham khảo [15]) - Về phương diện giải phẫu, đường thở được chia thành 2 phần: đường hô hấp trên (mũi, khoang mũi, các xoang cạnh mũi, họng, thanh quản và các cấu trúc liên hợp) và đường hô hấp dưới (khí quản, phế quản, phế quản phân thùy, nhánh phế quản, ống phế nang và phế nang). - Về phương diện chức năng, chia làm 2 phần: phần dẫn khí (mũi, khoang mũi, họng, thanh quản, khí quản, phế quản đến tận các nhánh phế quản nhỏ) và phần trao đổi khí ( phế quản hô hấp, ống phế nang và phế nang).Mũi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khoang mũi và và tổ chức lân cận Ngoài việc là cơ quan khứu giác ra, mũi còn là đường tự nhiên, nhờ đó không khí đi vào cơ thể bình thường trong lúc thở.
Mũi bao gồm có một xương và một phần sụn. Hai xương mũi, mỗi bên một xương, nhô xuống và cũng tạo thành sống mũi giữa hai mí mắt. Bên dưới chúng, các sụn mũi và các sụn của lỗ mũi tạo cho mũi sự vững chắc, hình dáng và tính mềm dẻo.Các ngách mũi Xoang ở phía sau mũi được chia thành các phần do ba gợn xương được gọi là các xoăn mũi. Chúng dài, mảnh và chạy theo chiều dài, dốc xuống ở phía sau.
Lối đi giữa mỗi xoăn mũi được gọi là một ngách. Nó được lót bằng niêm mạc được cung cấp rất nhiều máu và chính nơi đây làm ẩm và ấm không khí được hít vào.Họng Họng là một ống sợi cơ dài khoảng 12- 14cm nối từ các khoang miệng và mũi đến thực quản và khí quản. Cấu trúc của họng [15] (Nguồn từ tham khảo [15]) Về mặt giải phẫu học, họng được chia thành ba phần theo vị trí và nhiệm vụ của chúng. Phần trên cùng, họng mũi, đặt tên từ thực tế là nó nằm ở trên mức của vòm mềm (khẩu cái mềm) và tạo thành mặt sau của mũi.
Phía dưới, họng mũi tiếp giáp với chính vòm mềm, sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 chuyển động hướng lên của vòm miệng này đóng kín họng mũi khi bạn nuốt để ngăn ngừa thức ăn bị ép lên và ra ngoài mũi. Phần ở phía sau miệng, họng miệng, là phần đường khí giữa miệng và phổi, đây là phần rộng nhất của họng có kích thước khoảng 3,5cm. Cơ động hơn họng mũi rất nhiều, các hoạt động ép nén cơ của họng miệng giúp uốn nắn các âm thanh lời nói khi chúng đến từ thanh quản. Cùng với sự trợ giúp của lưỡi, các cơ này cũng giúp đẩy thức ăn xuống phía lối vào thực quản.
Cơ quan quan trọng nhất thuộc họng miệng là amygdale, thường liên quan đến bệnh đau họng. Phần thấp nhất là phần hạ họng, có liên quan toàn bộ đến sự nuốt, đây là phần hẹp nhất của họng có kích thước khoảng 1,5cm. Các chuyển động của họng phải được phối hợp để đảm bảo các khí hô hấp xuống phổi và thực phẩm xuống thực quản.Thanh quản Thanh quản là cơ quan phát âm và để thở, nằm ở trước hạ họng, từ đốt sống cổ 3 đến đốt sống cổ 6, nối họng với khí quản vì vậy nó thông ở trên với họng, ở dưới với khí quản. Kích thước thanh quản dài 44mm, rộng 43mm, đường kính trước sau là 36mm, di động ngay dưới da ở vùng cổ trước khi nuốt.
Thanh quản được cấu tạo bởi tổ chức sụn, sợi và cơ. Cấu trúc thanh quản [16] (Nguồn từ tham khảo [16]) 1. Sụn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Gồm 2 loại sụn là sụn đơn (sụn giáp, sụn nhẫn, sụn nắp thanh quản, sụn liên phễu) và sụn kép (sụn phễu, sụn sừng, sụn vừng, sụn chêm, sụn thóc). - Sụn giáp: có một sụn gồm hai mảnh, tiếp với nhau ở phía trước tạo thành góc sụn giáp (khe chữ V), ở nam góc này nhọn nên thấy rõ, ở nữ góc tù.
Bờ sau của sụn giáp có 4 sừng: hai sừng trên tiếp với xương móng và hai sừng dưới tiếp với sụn nhẫn, tạo thành khớp giáp nhẫn, làm cho sụn giáp di chuyển ra trước hoặc ra sau tới gần hoặc cách xa sụn phễu. - Sụn nhẫn: giống như nhẫn mặt vuông, nằm dưới sụn giáp, gồm hai phần: phần trước là cung nhẫn tiếp khớp với sụn giáp và phần sau là mặt nhẫn, phẳng, tiếp khớp với sụn phễu. Ở dưới sụn nhẫn tiếp với vòng sụn khí quản đầu tiên. - Sụn phễu: ở phía sau tiếp khớp với bờ trên của mặt nhẫn (mảnh thẳng sụn nhẫn).
Sụn phễu hình tháp tam giác, giống cái phễu, có 3 mặt: trước, sau, trong. Đỉnh ở trên, đáy ngồi trên sụn nhẫn. - Sụn nắp thanh môn: là sụn đơn, hình chiếc lá, nằm ở phía sau rễ lưỡi xương móng, phía trước thanh môn. Đầu dưới hay cuống nắp dính vào góc sụn giáp.
- Một số sụn nhỏ: Sụn sừng, sụn chêm, sụn thóc, sụn vừng và sụn liên phễu. Các màng - Màng giáp móng: căng từ sụn giáp đến xương móng, dầy ở giữa, se lại thành 2 dây chắc ở hai đầu. - Màng nhẫn giáp: dầy và chắc có cơ nhẫn giáp che phủ. - Màng nhẫn khí quản: là nơi thường mở khí quản 1.
Dây chằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sụn nắp thanh môn 3. Băng thanh thất 4. Dây thanh âm 5.
Nếp sụn nắp 6. Thanh môn Hình 1. Cấu trúc thanh môn [15] (Nguồn từ tham khảo [15]) Hai cặp dây chằng kéo từ mặt trước của sụn phễu đến tới mặt sau của sụn giáp. Cặp dây chằng bên trên được phủ một lớp niêm mạc gọi là tiền đình thanh quản, cặp dây chằng bên dưới được phủ một lớp niêm mạc gọi là dây thanh âm, hai dây thanh âm thường xuyên đóng mở theo nhịp thở, lỗ mở ra giữa chúng được gọi là thanh môn [15].
Khí quản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc khí quản [16] (Nguồn từ tham khảo [16]) Khí quản là một ống dẫn khí nối từ thanh quản xuống dưới ngang mức đốt sống ngực thứ 5 (đến carina), nằm trong trung thất, có đường kính trong là 12mm, đường kính ngoài 25mm và chiều dài từ 10-12cm, nó chứa một hệ thống dày đặc các mô liên kết thông thường với các cơ trơn bao bọc xung quanh 15-20 vòng sụn trong suốt hình chữ C, những sụn này chống đỡ mặt trước và mặt bên của khí quản, nó bảo vệ và tạo khung cho khí quản. Thành sau khí quản không có sụn, nó là một màng liên kết đàn hồi và những bó cơ trơn, nó liên kết trực tiếp với thực quản [16]. Phổi và cây phế quản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phổi(a) và cây phế quản(b) [15] (Nguồn từ tham khảo [15]) Bắt đầu từ carina đường thở được chia thành 2 đường dẫn khí xuống 2 phổi gọi là phế quản gốc phải và phế quản gốc trái, bên trái nằm ngang hơn bên phải. Bên phải có 3 thùy là thùy trên, giữa và dưới. Bên trái có 2 thùy là thùy trên và thùy dưới. Các thùy phổi này phân chia nhánh xuống thành các phân thùy nhỏ hơn, đến phế quản tận là từ 16-18 cấp.
Cuối cùng là phế quản hô hấp, ống phế nang rồi đến phế nang, tổng cộng cả hai phổi có khoảng 300-400 triệu phế nang. Giải phẫu vi thể đường thở Vê vi thê: niêm mac bao phu vùng hong, thanh quản la lơp biêu mô tế bao vảy vi vây phân lơn ung thư vùng nay la loai ung thư biêu mô tế bao vảy chiếm 95% sau đo la loai biêu mô tế bao đay, loai trung gian va biêu mô tuyến. Vị trí xuất phat cac khôi u thường từ vùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 xoang lê, đáy lưỡi và bề mặt dây thanh, những khối u vùng này thường gây choán chỗ và cản trở quá trình đặt ống NKQ trong gây mê [15]. Chức năng hô hấp Hệ hô hấp có chức năng cơ bản là trao đổi khí với môi trường bằng các động tác hít vào thở ra.
Không khí đi qua mũi hoặc miệng đến vùng họng, tiếp theo đến thanh quản để xuống khí quản sau đó đi vào 2 nhánh phế quản gốc và dẫn không khí đến tận các phế nang và ngược lại. Nơi hẹp nhất của đường thở là vùng hạ họng, đáy lưỡi và thanh quản, nếu có dị vật hoặc các khối u cản trở ở vùng này thì khả năng thông khí rất khó khăn. Nhiệm vụ chính của chức năng hô hấp là cung cấp oxy cho máu và đào thải CO 2, quá trình trao đổi này xảy ra giữa phế nang và mao mạch phổi [17],[18]. Có 2 hình thái của trao đổi khí phối hợp với nhau đó là [15]: - Hô hấp ngoài (hô hấp phổi): trao đổi khí giữa không khí và máu, oxy từ không khí được hít vào phổi và phân bố tới các phế nang, đi vào máu với sự hoạt động đồng thời với hệ tuần hoàn và cũng tại thời điểm đó CO 2 được khuyếch tán từ máu vào phế nang và được thở ra ngoài.
- Hô hấp trong (hô hấp tế bào): trao đổi khí giữa máu với các tế bào của cơ thể, máu vận chuyển O2 từ phổi đến tế bào và chuyển CO2 được sản xuất từ các tế bào đến phổi. Ngoài ra hệ hô hấp còn có chức năng làm ấm không khí, lọc khí, phát âm, ngửi và bảo vệ. Những yếu tố tiên lượng đặt ống nội khí quản khó 1. Tiền sử Có tiền sử đặt ống NKQ khó, Có chấn thương vùng hàm mặt, có những can thiệp vùng hàm mặt như: cắt thanh quản bán phần, chấn thương thanh quản [4].
Lâm sàng Cơ năng: Phát âm khó, tiếng thở rít, khó thở vào thường là bệnh thanh quản. Nuốt khó thường do cản trở ở họng (đáy lưỡi, các rãnh lưỡi). Thay đổi tiếng nói thường là do u chèn ép. Rối loạn trong giấc ngủ liên quan tới tư thế bệnh nhân, ngừng thở khi ngủ.
Thông khí bằng Mask khó Thông khí bằng mask là kỹ năng không thể thiếu của tất cả các bác sĩ gây mê, nó là kỹ thuật quan trọng để duy trì ôxy trong gây mê và trong trường hợp đặt ống nội khí quản khó. Hội gây mê hồi sức Hoa kỳ (ASA) định nghĩa thông khí bằng mask khó là: “tình trạng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 bác sĩ gây mê không cung cấp đủ thông khí vì một hoặc nhiều vấn đề sau: mask không phù hợp với khuôn mặt, mask hở quá mức, tăng sức cản quá mức đối với khí vào hoặc khí ra” [19],[20]. Các yếu tố gây thông khí bằng mask khó Yếu tố gây mê: Kinh nghiệm của người giữ mask, kỹ năng thông khí bằng mask đạt được qua đào tạo và thực hành hàng ngày.