Chương 1 đã trình bày tính cấp thiết của đề tài. Bắt đầu từ những lý do về mặt lý luận, những lý do về mặt thực tiễn và mong muốn giúp Tổng Công ty CP Đầu tư DHC tạo động lực lao động tốt hơn cho nhân viên mà tác giả lựa chọn đề tài. Với phân tích về mục tiêu nghiên cứu, phạm vị nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu để làm rõ hơn hướng đi của đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở đó hình thành nên kết cấu chương mục gồm 5 chương như đã trình bày ở trên.
8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Định nghĩa động lực Động lực luôn hiển hiện bên trong mỗi cá nhân trong cuộc sống hằng ngày. Tuy vậy, rất khó để hình dung được trông nó như thế nào. Bởi về cơ bản, động lực là vô hình (Ambrose & Kulik, 1999).
Con người gắn hoạt động của mình với động lực nhưng việc đo lường trực tiếp là không thể thực hiện được. Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã xây dựng nên các lý thuyết và mô hình để xác định biểu hiện quan sát động lực trong công việc. Trong giới hạn đề tài này, tác giả xin trích dẫn một vài khái niệm được sử dụng rộng rãi như sau: Theo Robbins (1993) động lực lao động là sự sẵn sàng tạo ra sự nỗ lực ở mức độ cao vì mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện các nhu cầu cá nhân được thỏa mãn. Ngoài ra, Daft & Marcic (2008) cho rằng động lực được định nghĩa như một hay nhiều nguồn lực mà khơi gợi nhiệt huyết và sự kiên trì để theo đuổi một phương hướng xác định của hành động.
(trích dẫn bởi Hasebur và cộng sự, 2014) Trong một nghiên cứu khác, Mitchell (1982) nhận định động lực đại diện cho những diễn biến tâm lý tạo ra kích thích, định hướng và sự kiên trì cho những hoạt động được mục tiêu định hướng. Như vậy, mỗi quan điểm tiếp cận động lực một cách khác nhau nhưng tựu chung có thể hiểu động lực lao động đề cập một tiến trình tâm lý dẫn dắt hành động của con người đến một kết quả làm việc, mà kết quả đó có được bởi sự nỗ lực một cách tự nguyện, không bị ép buộc. Động lực mang tính chất là những trải nghiệm qua các cung bậc cảm xúc 9 và với những cảm xúc tích cực sẽ hướng nhân viên vào việc hoàn thành công việc một cách tốt hơn so với những cảm xúc kém tích cực. Điều này cũng gần với quan điểm của PGS.
Trần Xuân Cầu khi nhận định mức độ biến đổi cao hay thấp của động lực lao động. Động lực là những gì khiến chúng ta chuyển từ tâm trạng chán nản thành hứng thú (Mitchell, 1982) Nó giống như bánh lái của phương tiện, điều hướng các hoạt động của chúng ta.(Islam & Ismail, 2008) Tuy nhiên, động lực thúc đẩy và sự thỏa mãn là khác nhau. Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định, còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Tạo động lực lao động cho nhân viên “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong lao động” PGS.TS Bùi Anh Tuấn – Giáo trình Hành vi tổ chức.
Muốn cho nhân viên có động lực lao động tốt thì doanh nghiệp phải tìm cách để tạo ra động lực hoặc khích lệ động lực vốn có trong mỗi cá nhân. Điều này ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần của nhân viên trong quá trình lao động tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Nhu cầu Sự Các Hành Nhu cầu Giảm không căng động vi tìm được căng được thỏa thẳng cơ kiếm thỏa thẳng mãn mãn Hình 2. Quá trình tạo động lực (Trích từ Giáo trình Hành vi tổ chức PGS.TS Bùi Anh Tuấn, TS.
Phạm Thúy Hương, 2009, tr.87) Theo sơ đồ trên, tác giả cho rằng con người có nhiều nhu cầu trong cuộc 10 sống, điều này cũng được đề cập trong lý thuyết nhu cầu của Maslow. Những nhu cầu không được đáp ứng sẽ làm phát sinh mong muốn được bù đắp, thôi thúc hình thành nên các động cơ trong mỗi cá nhân. Động cơ nhiều hay ít còn phụ thuộc vào nhu cầu. Những động cơ này thúc đẩy mỗi cá nhân tìm kiếm một hệ thống các mục tiêu được cụ thể hóa từ các nhu cầu cần được thỏa mãn.
Qúa trình hành động để đạt được các mục tiêu giúp cho nhu cầu được thỏa mãn, từ đó giảm đi sự bức bách về giải quyết nhu cầu. Như vậy, việc nghiên cứu nhu cầu của nhân viên và đưa ra những kích thích về vật chất lẫn tinh thần từ nhà quản lý sẽ mang lại nguồn cảm hứng, sự phấn khích trong công việc. Động viên nhân viên khi được thực hiện đúng thì sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực trong thái độ và hành vi của con người đối với công việc. Mà cụ thể đánh giá ở đây là các mục tiêu trong công việc được hoàn thành và có thể còn hơn thế.
Qúa trình tạo động lực thông qua các chính sách nhằm thỏa mãn nhu cầu, tăng sự khích lệ bằng phần thưởng và tạo ra một môi trường phù hợp cho công việc sẽ thúc đẩu nhân viên làm việc. Như đã nói ở trên, tạo động lực liên quan nhiều đến khích lệ và hoàn toàn khác so với dụ dỗ, vốn được hiểu là những lời hứa hẹn về quyền lợi để người khác nghe theo sự xếp đặt, sai bảo. Tóm lại, tạo động lực cho nhân viên là một hoạt động có ý nghĩa và hiệu quả mang lại đôi khi còn lớn hơn việc thường xuyên chi tiền mua sắm ,đổi mới trang thiết bị trong công ty. Các lý thuyết về tạo động lực a.
Lý thuyết nhu cầu (Needs Theory) Đại diện cho các lý thuyết này bao gồm lý thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết E.G của Alderfer, thuyết hai nhân tố của F. Herzberg và thuyết ba nhu cầu của David McClelland. 11 Các lý thuyết này tập trung vào việc xem xét các yếu tố bên trong con người và các yếu tố này có thể tiếp thêm nghị lực, điều hướng, duy trì và ngăn chặn hành vi. Đây cũng là các lý thuyết cho rằng nhu cầu của con người là nhân tố không thể thiếu trong động lực.
* Lý thuyết nhu cầu của Maslow + Các nhu cầu sinh lý: là các đòi hỏi cơ bản về thức ăn, nước uống, chỗ ở và ngủ và các nhu cầu cơ thể khác. + Nhu cầu an toàn: là nhu cầu được ổn định, chắc chắn, được bảo vệ khỏi các điều bất trắc hoặc nhu cầu tự vệ. + Nhu cầu xã hội: nhu cầu được quan hệ với những người khác để thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc và sự hiệp tác. Hay nói các khác là nhu cầu bạn bè, giao tiếp.
+ Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng, cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình. + Nhu cầu tự hoàn thiện: là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được biến các năng lực của mình thành hiện thực, hoặc nhu cầu đạt được các thành tích mới và có ý nghĩa, nhu cầu sáng tạo. Tự thể hiện Cấp Tôn trọng cao Xã hội Cấp An toàn thấp Sinh lý Hình 2.Maslow (Nguồn Motivation and Personality, 2nd Ed. 1970) 12 * Lý thuyết ERG của Alderfer Thuyết ERG được Clayton Alderfer tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow, tóm lược các nhu cầu của Maslow thành ba nhóm nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ, và nhu cầu phát triển; đồng thời đưua ra kết luận cho rằng hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu – cũng giống như các nhà nghiên cứu khác – song ông cho rằng con người cũng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản trên.
Điều này xem ra có vẻ trái ngược với lý thuyết của Masow cho rằng con người chỉ nảy sinh nhu cầu cao hơn khi các nhu cầu thấp hơn được thỏa mãn. + Nhu cầu tồn tại (Existence needs) bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của Maslow. + Nhu cầu quan hệ giao tiếp (Relatedness needs) là những đòi hỏi về quan hệ và tương tác qua lại giữa các cá nhân. Nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng (được tôn trọng) của Maslow.
+ Nhu cầu phát triển (Growth needs) là đòi hỏi bên trong mỗi con người cho sự phát triển cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng (tự trọng và tôn trọng người khác) của Maslow. Ngoài ra, thuyết này còn cho rằng trong khu một nhu cầu đó bị cản trở và không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang thỏa mãn các nhu cầu khác. Cụ thể là nếu nhu cầu tồn tại bị cản trở, con người sẽ dồn nỗ lực của mình sang việc theo đuổi nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. Điều này giải thích khi cuộc sống khó khăn, con người có xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa họ tốt hơn và họ dồn nỗ lực đầu tư cho tương lai nhiều hơn.
Mối tương quan giữa lý thuyết nhu cầu Maslow và ERG của Alderfer * Lý thuyết hai yếu tố của F.Herberg Frederick Herzberg sinh ngày 18 tháng 4 năm 1923, Lynn, Massachusetts, Mỹ. Ông cũng là một nhà nghiên cứu tâm lý học. Ấn phẩm năm 1968 “One more time, How do you motivate employees?” được F. Herzberg đưa ra dựa trên các kết quả điều tra, phân tích điều tra được thực hiện ở Pittsburgh, Pennsylvania.Herzberg đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn công việc và tạo động lực trong công việc như sau: 14 Bảng 2.
Nhóm yếu tố động viên và duy trì Nhóm 1–các yếu tố then chốt tạo động Nhóm 2- các yếu tố thuộc về môi lực và sự thỏa mãn trong công việc trường tổ chức (1) Sự thành đạt (1) Các chính sách và chế độ quản (2) Sự thừa nhận tích cực trị của công ty (3) Bản chất bên trong của công việc (2) Sự giám sát công việc (4) Trách nhiệm lao động (3) Tiền lương (5) Sự thăng tiến (4) Các quan hệ con người (5) các điều kiện làm việc (6) Địa vị (7) Công việc ổn định Đây là các yếu tố thuộc về công việc Theo Herzberg, nếu các yếu tố này và về nhu cầu bản thân của người lao mang tính chất tích cực thì sẽ có tác động.