Chương 1: Tông quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và đề xuất. CHUONG 2: CO SO LY THUYET 2. Một số khái niệm liên quan đến vẫn đề nghiên cứu 2. Khái niệm “Giấc ngủ” Ngủ là một trạng thái sinh lý bình thường của cơ thê có tính chất chu kỳ ngày đêm; trong đó toàn bộ cơ thể được nghỉ ngơi, tạm ngừng hoạt động tri giác và ý thức, các cơ bắp piãn mềm, các hoạt động hô hấp, tuần hoàn chậm lại.
Giấc ngủ là khoảng thời g1an ngủ, trong đó các trạng thái ngủ diễn ra kế tiếp. Một giác ngủ tốt là giác ngủ đảm bao day đủ về chất lượng, số lượng, thời gian; và khi ngủ dậy, người ta cảm thấy khoan khoái đễ chịu về thê chất và tâm thần. Khái niệm “Sinh viên” Theo “Quy chế công tác sinh viên đối với chương trinh đảo tạo đại học hệ chính quy” của Bộ giáo dục và Đảo tạo thì: “Sinh viên” là người đang học chương trình đào tạo trinh độ đại học hệ chính quy tại các co so giao duc Dat hoc. Sinh viên là những người học tập tại các trường đại học, cao đắng hay trung cấp chuyên nghiệp.
Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề để chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhân qua những bằng cấp đạt được trong qua trinh hoc. Quá trinh học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã trả qua bậc tiểu học và trung học. Từ đó, ta có thể hiểu khái niệm “Sinh viên” là những người đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đảo tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xã hội, phục vụ cho đất nước.
Kiến thức nền tảng về vấn đề Giác ngủ có tác động lớn đến sức khỏe tông thê của một cá nhân. Trong những năm qua, rồi loạn giác ngủ đã trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng báo động. Một người bình thường dành tới 369% thời gian trong cuộc đời cho việc ngủ. Có nghia là, nếu bạn sông thọ tới 90 tuôi thì thời gian bạn ngủ sẽ là 32 năm.
Điều này hàm ý rằng, ở một mức độ nào đó, giấc ngủ là vô cùng quan trọng. Nhưng hầu hết mọi người không nhìn thấy được điều này. Nhiều người cho rằng việc ngủ là biểu hiện của sự lười biếng, lãng phí thời gian. Sự thật là những suy nghĩ này hoản toản sai.
Mặc dù rối loan gidc ngu xay ra thuong xuyén hon 6 nguroi 1én tuéi, nhung hién nay người trẻ cụ thể là học sinh — sinh viên cũng gặp nhiều nguy cơ gây rỗi loạn giác ngủ như khối lượng công việc, học tập và việc sử dụng rộng rãi các phương tiện điện tử. Có 2 dạng thiếu ngủ phố biến, gồm thiếu ngủ chủ động và người thiếu ngủ bị động. + Thiếu ngủ chủ động: chủ động chọn ngủ ít để giải trí, học thêm, hoặc làm thêm. Thói quen này làm đôi mắt của họ bị quá tải, đồng thời phải hấp thụ lượng lớn ánh sáng xanh về đêm khiến giác ngủ bị rối loạn sau đó.
Nghiên cứu của khoa Nhãn học, Đại học Houston (Mỹ) cho thấy những người đeo kính chống ánh sáng xanh khi sử dụng thiết bị điện tử trước khi đi ngủ một số ngủ ngon hơn, ngủ nhanh hơn và còn tăng thời gian ngủ lên 24 phút mỗi đêm. + Thiếu ngủ bị động: những người này đù có chủ đích muốn đi ngủ sớm song họ vẫn trằn trọc, thao thức khó vào giác, hoặc ngủ chập chon và hay bị thức giấc nửa đêm. Các nguyên nhân có thể kể đến như do lão hoá làm suy giảm hệ thống kiểm soát nhịp sinh học thức - ngủ; tâm lý lo lắng, căng thẳng từ áp lực thế hệ; thói quen sống ít vận động, tiêu thụ nhiều cả phê, thuốc lá, bia rượu và "nphiện" thiết bị điện tử,. Người trẻ có lợi thế là họ có sức khỏe đồi dảo, nhưng nếu không duy trì và giữ gìn, thi sé có ngày sức khỏe xuống dốc.
Ngược lại, nếu chúng ta sớm ý thức và trân trọng giấc ngủ của mỉnh, chúng ta sẽ làm việc hiệu quả hon, đầu óc minh mẫn hơn, tăng tuổi thọ, hạn chế tối đa các loại bệnh tật. Vì vậy, việc nghiên cứu về chất lượng giấc ngủ của người trẻ là vô cùng cân thiết. Mô hình nghiên cứu đi trước 2. Mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu là chỉ mối quan hệ giữa các nhân tố (biến nghiên cứu) với nhau như thế nào dựa trên các lý thuyết kinh tế, quản trị, tâm lý xã hội.
Một mô hình nghiên cứu gồm 2 thành phần cơ bản là (1) các biến nghiên cứu và (2) các mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu (được thể hiện qua các giả thuyết nghiên cứu). Một mô hình nghiên cứu có thê được biều diễn như sau: Biến chịu tác động Hình 2.1 Trong mô hình nghiên cứu này thiết lập mối quan hệ giữa sáu nhân tổ với một yếu tố chịu tác động nào đó (gọi là biến phụ thuộc, trong một mô hình nghiên cứu có thể có nhiều quan hệ nhân quả hơn nữa). Các biến nghiên cứu Trong mô hình nghiên cứu ở trên các biến nghiên cứu được hiểu là các nhân tổ và biến chịu tác động. Có hai loại biến nghiên cứu là (1) biến độc lập (hay biến giải thích) và (2) biến phụ thuộc (biến được giải thích, biến mục tiêu).
Biến độc lập: Là các biến nghiên cứu không chịu sự tác động của các biến khác, nó dùng để giải thích cho biến phụ thuộc. Biên phụ thuộc: Là biên nghiên cứu chịu sự tác động của biên khác (thông qua các lý thuyết được thiết lập). Khái niệm về biến độc lập và biến phụ thuộc được xác định thông qua quan hệ giữa các biến với nhau. Về mặt biểu diễn biến phụ thuộc được biểu diễn bởi đầu mũi tên, biển độc lập được biểu diễn bởi sốc mùi tên.
Trong một mô hình nghiên cứu có thé có một biến vừa là biến độc lập vừa là biến phụ thuộc, điều đó phụ thuộc vào quan hệ giữa các biên. Một số lý thuyết áp dụng trong đề tài 2. Mô hình thuyết hành động hợp lý (The theory of reasoned action - TRA) Thuyết hành động hợp lý (The theory of reasoned action - TRA) xác định hành vi thực sự của con người ảnh hướng bởi ý định của người đó đối với hành vi sắp thực hiện. Ngoài ra, các quy tắc xã hội cũng góp phân vào việc người đó có thực sự thực hiện hành vi hay không.
Ý định lại chịu sự tác động của hai nhân tố chính là thái độ cá nhân và chuẩn mực chủ quan như kinh nghiệm, phong cách sống, trình độ, tuổi tác, giới tính. Thuyết hành động hợp lý cho thấy rằng ý định cảng mạnh mẽ càng làm tăng động lực thực hiện hành vi, điều này dẫn đến làm tăng khả năng hành vi được thực hiện. Thái độ đối với hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuân mực chủ quan Hình 2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) 2. Mô hinh thuyết hành vi có kế hoach (The theory of planned behavior - TPB) Thuyét hanh vi co ké hoach (The theory of planned behavior - TPB) 1a mét ly thuyét trong lĩnh vực tâm lý học và khoa học hành vị được phát triển bởi nhà tâm ly hoc xã hội người Scotland lcek Ajzen.
TPB mô tả cách mọi người hình thành ý định và thực hiện hành động bằng ba yếu tố chính: thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Thái độ là quan điểm của một người về hành vi của họ, bao gồm các giá trị, niềm tin và cảm xúc. Một quan điểm phổ biến là ảnh hưởng của xã hội, gia đình và bạn bè đối với hành vi của người biểu điễn được xác định bởi sự đồng thuận xã hội và áp lực của bạn bẻ. Kiểm soát hành vi là khả năng và niềm tin để kiểm soát hành vi của một người trong các tình huỗng khác nhau.
Thai d6 Xu hướng Hanh vi Chuan chủ quan hanh vi thực sự Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2.2 Mô hình thuyết hành vì có kế hoạch (TPB) CHUONG III: THIET KE NGHIEN CUU 3. Quy trình thực hiện nghiên cứu Đề khái quát toàn bộ quy trình nghiên cứu của đề tài, nhóm đã xây dựng sơ đồ quy trình nghiên cứu như sau: Nghiên cứu lý thuyết và các khái niệm Xác định Xây dựng gi 010 oe oe Viet de ee Phân tích tie is và mô tả khung Te Thict ke 5 TIỆC c Giải thích vân đê hân tích P xã " TT nghiên nghiên Tên eee kiêm định kétCe quamà va nghiên thiết cứu giả thiết cứu Tìm hiệu các nghiên cứu trước đây Hình 3.] Quy trình nghiên cứu 3. Mô hình nghiên cứu đề xuất 3. Cơ sở xây dựng Dựa trên các bài nghiên cứu trước đó về giấc ngủ cũng như sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Bảo Lâm, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian neu mỗi đêm của sinh viên khoa QTKD 2, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
Qua quá trình tìm hiểu và phân tích đề tài, nhóm chúng em đã đề ra các biến độc lập và biến phụ thuộc như sau: Biến phụ thuộc: - Thời gian ngủ mỗi đêm: TGN (tiếng/ đêm). Biến độc lập: - Thời gian học tập và làm việc mỗi đêm: HT (tiếng/ đêm). - Thoi gian su dụng thiết bị điện tử mỗi đêm: TBDT (tiéng/ đêm). - Thời gian cho các mỗi quan hệ mỗi đêm: MQH (tiếng/ đêm).
- Cac van dé tam ly: TL (có/ không). Dé xuất mô hình nghiên cứu Sau khi đã xác định được các biên độc lập và biên phụ thuộc, nhóm em đề xuât mô hình nghiên cứu như sau: “ ` Thời gian học tập và làm việc mỗi đêm s J i: = Thoi gian su dung thiét bi điện tử mỗi đêm \. J Thời gian ngủ mỗi đêm | đ ` Thời gian cho các mối quan hệ mỗi đêm Cac van dé tam ly \ J Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 3. Giải thích ý nghĩa từng biến đã chọn Biến phụ thuộc -_ Thời gian ngủ mỗi đêm (TGN): là khoảng thời gian khi các bạn sinh viên kết thúc các hoạt động thường ngày và đi ngủ, đưa cơ thể vào trạng thái nghỉ ngơi và hồi phục năng lượng.
Khoảng thời gian này thương rơi vào khung giờ từ 23h đến 7h sáng hôm sau. Biến độc lập -_ Thời gian học tập và làm việc mỗi đêm (HT): là khoảng thời gian các bạn sinh viên sử dụng cho việc học tập như làm bài tập hoặc làm việc như đi làm thêm,.