CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Người tiêu dùng Theo Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng của Ủy ban thường vụ Quốc hội: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”. Theo hiệp hội Marketing Mỹ: Người tiêu dùng là người cuối cùng sử dụng, tiêu dùng hàng hóa, ý tưởng, dịch vụ nào đó.
Người tiêu dùng cũng được hiểu là người mua hoặc ra quyết định như là người tiêu dùng cuối cùng. Ý định mua hàng Theo Ajzen (1991), “các ý định được giả định để nắm bắt các yếu tố động lực ảnh hưởng đến hành vi, chúng cho biết con người đã cố gắng như thế nào để sẵn sàng thử và đã nỗ lực nhiều như thế nào để thực hiện hành vi”. Và ông nhấn mạnh thêm rằng “khi con người có ý định hành vi mạnh mẽ hơn, họ sẽ có khuynh hướng thực hiện hành vi cao hơn” (Ajzen, 1991). Ý định (intention) là đại diện của mặt nhận thức về sự sẵn sàng thực hiện một hành vi, nó được xem như tiền đề đứng trước hành vi.
Samin, Goodarz, Muhammad, Firoozeh, Mahsa và Sanaz (2012) cho rằng “ý định là động lực của con người trong chính ý nghĩ thực hiện hành vi của họ”. Long và Ching (2010) định nghĩa “ý định mua là biểu trưng cho những gì chúng tôi sẽ mua trong tương lai”. Một trong những nghiên cứu của Blackwell, Miniard, và Engel (2001) khám phá rằng ý định mua hàng đại diện cho những gì người tiêu dùng sẽ 9 mua. Lý thuyết về hành vi phát biểu rằng ý định mua hàng bị tác động bởi 3 yếu tố: thái độ, nhóm ảnh hưởng, nhận thức.
Các yếu tố này liên quan và tác động mạnh mẽ đến ý định mua hàng thông qua những hành vi và tình huống cụ thể. Rau an toàn a. Rau an toàn là gì? Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả) có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hoá chất độc hại và mức độ ô nhiễm các sinh vật gây hại dưới mức tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là rau an toàn (Theo quyết định số 67-1998/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/4/1998 của bộ NN & PTNT). Theo viện nghiên cứu rau quả thành phố Hồ Chí Minh năm 1994 thì rau an toàn là rau không chứa thuốc bảo vệ thực vật ở mức độ có thể gây ra bất kỳ một tác động có hại nào cho sức khoẻ của con người và động vật.
Hay nói cách khác là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật chứa trong rau không được vượt quá “mức dư lượng tối đa”. Các điều kiện sản xuất rau an toàn Ø Đất trồng: Đất cao, thoát nước thích hợp với sinh trưởng và phát triển của rau. Thích hợp cho sản xuất rau nhất là đất cát pha hoặc thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20 - 30 cm. Vùng trồng rau cách ly khu vực có chất thải công nghiệp, bệnh viện ít nhất 2 km và chất thải thành phố ít nhất 200 m.
Đất trồng rau không được có hoá chất độc hại. Ø Nước tưới : Cần dùng nước sạch để tưới rau. Nếu có điều kiện nên sử dụng nước 10 giếng khoan nhất là đối với sản xuất các loại rau ăn sống như: xà lách, rau thơm, rau gia vị… Có thể dùng nước sông hoặc ao hồ trong, không ô nhiễm để tưới rau. Đối với cây ăn quả có thể sử dụng nước bơm từ ao mương để tưới rãnh trong giai đoạn đầu.
Ø Giống: Nếu tự để giống: cần chọn những hạt giống tốt không có mầm bệnh. Nếu là giống mua: phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Hạt giống trước khi gieo cần xử lý hoá chất hoặc nhiệt. Cần xử lý sạch sâu bệnh trên cây con trước khi ra khỏi vườn ươm.
Ø Phân bón: Phân hữu cơ: trung bình sử dụng 15 tấn phân chuồng đã ủ oai mục và 300 kg phân lân hữu cơ vi sinh cho 1 ha: Toàn bộ dùng để bón lót. Phân hóa học: Tuỳ thuộc vào nhu cầu sinh lý của từng loại cây mà có lượng phân thích hợp. Số đạm và Kali còn lại dùng bón thúc. Tuyệt đối không dùng phân chuồng chưa oai để loại trừ vi sinh vật gây bệnh, tránh nóng cho rễ cây.
Những loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn (ít hơn 60 ngày) bón thúc 2 lần. Kết thúc bón trước khi thu hoạch 7 - 10 ngày. Các loại rau có thời gian sinh trưởng dài, có thể bón thúc 3 - 4 lần, kết thúc bón phân hóa học trước khi thu hoạch 10 - 12 ngày. Tuyệt đối không dùng phân tươi hoặc nước phân pha loãng tưới cho rau.
Ø Bảo vệ thực vật : Hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhóm I và II. Khi thật cần thiết có thể sử dụng thuốc nhóm III và IV. 11 Chọn các loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với ký sinh thiên địch. Cần sử dụng luân phiên các loại thuốc khác nhau để tránh sâu kháng thuốc.
Kết thúc phun thuốc hoá học trước thu hoạch đúng theo hướng dẫn trên nhãn của từng loại thuốc sử dụng. Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học, các chế phẩm thảo mộc, thiên địch để phòng trừ bệnh. Áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp phòng trừ tổng hợp: vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng hợp lý, sử dụng giống tốt, chống chịu sâu bệnh, chăm sóc cây theo yêu cầu sinh lý, bắt sâu bằng tay, dùng bẫy để trừ bướm, sử dụng các chế phẩm sinh học, thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để theo dõi, phát hiện sâu bệnh kịp thời, tập trung phòng trừ sớm. Yêu cầu chất lượng của rau an toàn Ø Chỉ tiêu về nội chất: Ngày 28 tháng 4 năm 1998, bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã ra quyết định số 67/1998 QĐ – BNN – KHCN ban hành “Qui định tạm thời về sản xuất rau an toàn” để áp dụng cho cả nước.
Trong quyết định này qui định mức dư lượng cho phép trên sản phẩm rau đối với hàm lượng nitrate, kim loại nặng, vi sinh vật gây bệnh và thuốc bảo vệ thực vật. Các mức dư lượng cho phép này chủ yếu dựa vào qui định của Tổ chức lương thực thế giới (FAO) và Tổ chức y tế thế giới (WHO). Các cá nhân, tổ chức sản xuất và sử dụng rau dựa vào các mức dư lượng này để kiểm tra xác định sản phẩm có đạt tiêu chuẩn an toàn hay không. Đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng theo qui định về mức dư lượng cho phép của các yếu tố trên là yêu cầu cơ bản của rau an toàn.
- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. - Hàm lượng nitrat (NO3). - Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu: Cu, Pb, Hg, Cd, As,. 12 - Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.) và kí sinh trùng đường ruột (trứng giun đũa Ascaris).
Tất cả các chi tiêu trong sản phẩm của từng loại rau phải được dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của Tổ chức Quốc tế FAO/WHO. Ø Chỉ tiêu về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng yêu cầu từng loại rau (đúng độ già kỹ thuật hay thương phẩm); không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp. Ngoài ra, trong thực tế rau an toàn còn phải mang tính hấp dẫn về mặt hình thức: rau phải tươi, không có bụi bẩn, không có triệu chứng bệnh và được đựng trong bao bì sạch sẽ. Yêu cầu về chất lượng rau an toàn phụ thuộc vào điều kiện môi trường, môi trường canh tác và kỹ thuật trồng trọt.
Yêu cầu về hình thức được thực hiện khi thu hoạch và trong quá trình bảo quản, đóng gói. CÁC CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH MUA 1. Lý thuyết Hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – viết tắt: TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reason Action) được xây dựng bởi Ajzen và Fishbein từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70. Theo Ajzen (1991), “các ý định được giả định để nắm bắt các yếu tố động lực ảnh hưởng đến hành vi, chúng cho biết con người đã cố gắng như thế nào để sẵn sàng thử và đã nỗ lực nhiều như thế nào để thực hiện hành vi”.
Và ông nhấn mạnh thêm rằng “khi con người có ý định hành vi mạnh mẽ hơn, họ sẽ có khuynh hướng thực hiện hành vi cao hơn” (Ajzen, 1991). 13 Ý định mua cũng có thể được định nghĩa là quyết định hành động hoặc hành động bản năng cho thấy hành vi cá nhân dựa theo sản phẩm (Wang và Yang, trích dẫn trong Samin và cộng sự, 2012). Dodds và cộng sự (1991) đề nghị ý định mua đại diện cho khả năng mua một sản phẩm của người tiêu dùng. Theo lý thuyết TRA, ý định hành vi (Behavior Intention) của một người bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố đó là thái độ (Attitude) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm).
Hai nhân tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi và sau đó sẽ ảnh hưởng đến hành vi của một cá nhân (Sudin, Geoffrey và Hanudin, 2009). Theo lý thuyết TRA, thái độ là biểu hiện yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của người tiêu dùng đối với một sản phẩm cụ thể. Còn chuẩn chủ quan là “nhận thức áp lực xã hội để thực hiện hay không thực hiện hành vi”. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định hành vi trong mô hình TRA: a.
Thái độ: Trong mô hình thuyết TRA, Ajzen định nghĩa thái độ đối với hành vi được đo lường bằng nhận thức tích cực hay tiêu cực của con người về hành vi trong một hoàn cảnh cụ thể. Con người sẽ giữ thái độ tích cực đối với việc thực hiện hành vi nếu người đó tin tưởng rằng lợi ích đạt được là nhiều nhất khi thực hiện một hành vi nhất định và ngược lại (Sudin và cộng sự, 2009). Một người nắm giữ thái độ càng tích cực đối với việc thực hiện hành vi thì khi có ý định mạnh mẽ, họ sẽ thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Theo Sudin và cộng sự (2009) thì niềm tin làm nên nền tảng cho thái độ của một người đối với hành vi được gọi là niềm tin hành vi.
Chuẩn chủ quan: Ajzen cũng đề cập chuẩn chủ quan là “nhận thức áp lực xã hội để thực hiện hay không thực hiện hành vi” (Ajzen, 1991).