CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ HỌC TẬP TRỰC TUYẾN CỦA SINH VIÊN 1. Cơ sở lí luận về học trực tuyến 1. Khái niệm Dựa vào phần tổng quan ở trên, nhóm thấy rằng mỗi tác giả lại có một định nghĩa, cách giải thích khác nhau về “học trực tuyến” hay “E-Learning”.
Với Lê Nam Hải, Trần Yến Nhi trong Nghiên cứu sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến (e- learning): Trường hợp sinh viên ngành kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh (08/2021) thì “Học trực tuyến (elearning) là hình thức học tập thông qua một máy vi tính, điện thoại thông minh có kết nối mạng internet. Từ đó, người học có thể tiết kiệm được thời gian chi phí vì hình thức học này giúp giải quyết rào cản về nghĩa thực tiễn trong bối cảnh phòng, chống dịch bệnh”. Hay theo bài nghiên cứu Các yếu tố rào cản trong việc học Online của sinh viên Khoa Du lịch - Đại học Huế (2020) của Đặng Thị Thúy Hiền, Trần Hữu Tuấn, Nguyễn Thị Như Quỳnh, Đoàn Lê Diễm Hằng, Nguyễn Thị Phương Thảo thì “Học online là phương thức phân phối các tài liệu, nội dung học tập dựa trên các công cụ điện tử hiện đại được thực hiện hoàn toàn thông qua hệ thống quản lý học tập như Blackboard, WebCT, MOODLE…” Tóm lại, về cơ bản thì nhóm chúng tôi thấy định nghĩa “Học trực tuyến là việc sử dụng công nghệ thông tin để cung cấp thông tin cho người học, bất kể giới hạn về thời gian không gian được sử dụng và ứng dụng rộng rãi trong giáo dục” của Tony Bates là hợp lí nhất và đưa vào sử dụng trong bài nghiên cứu này. Quá trình phát triển của hình thức học trực tuyến Học trực tuyến (E-Learning) là thuật ngữ do nhà giáo dục học người Mỹ Elliott Masie đưa ra tại Hội thảo Công nghệ dạy học (TechLearn) tháng 11/1999.
Tại thời điểm đó, thuật ngữ E-learning tương đương với “online learning”, nghĩa là dạy học trực tuyến. Học tập trực tuyến đã vẽ ra cho chúng ta thấy một cách chi tiết nhất và sinh động về một hệ thống học trực tuyến chuyên nghiệp và khoa học. Theo đó, những người tham gia học tập có thể tương tác với môi trường học trực tuyến thông qua mạng Internet hoặc các phương tiện điện tử truyền thông khác. Hệ thống học tập trực tuyến từng được người ta ví như là một mô hình “Lớp học 12 Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 đảo ngược” bởi người học sẽ được học tập ngay tại lớp học trực tuyến, và sau đó là nghiên cứu lý thuyết tại nhà.
Đó chính là một trong những điểm khác biệt chính giữa hình thức giáo dục truyền thống và hình thức đào tạo trực tuyến hiện nay. Trong giai đoạn những năm 1984 - 1993, hệ điều hành Windows 3.1- máy tính Macintosh, Powerpoint… đã ra đời cùng với các công cụ đa phương tiện khác đã mở ra một kỷ nguyên mới trong công nghệ – Kỷ nguyên số đa phương tiện. Các công cụ này cho phép tạo ra các bài giảng có tính tích hợp cả hình ảnh và âm thanh dựa trên Công nghệ CBT. Các bài học sẽ đến với người học qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm.
Cũng đã bắt đầu có những sự phát triển trong cách đào tạo khi người học có thể mua và tự học mọi lúc, mọi nơi. Nhưng có một hạn chế lớn ở việc giao tiếp, trao đổi, hướng dẫn của giảng viên và người học. Đây có thể nói là sự nhen nhóm đầu tiên cho hình thức học trực tuyến. Tới giai đoạn năm 1994 - 1999, sự ra đời của công nghệ Website đã được phát minh cũng là thời điểm các nhà cung cấp dịch vụ bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục truyền thống qua công nghệ mới này.
Sự phổ biến của các phần mềm: Email, Web, trình duyệt, Media Player, kỹ thuật truyền Audio… tốc độ thấp cùng với các ngôn ngữ web: HTML và Java đã góp phần làm thay đổi phần nào bộ mặt của nền giáo dục đào tạo bằng công cụ đa phương tiện. Giai đoạn năm 2000 - 2005, các công nghệ tiên tiến: Java, ứng dụng mạng IP… Cùng công nghệ truy cập mạng, băng thông Internet được nâng cấp; Các công nghệ thiết kế Web tiên tiến… Tất cả đã tạo nên một cuộc cách mạng lớn trong lĩnh vực giáo dục đào tạo. Năm 2017, nước Úc trao quyền tự quyết cho sinh viên, theo đó sinh viên được lựa chọn đến lớp học trực tiếp, hoặc sẽ xem lại video bài giảng. Sinh viên không bắt buộc phải đến lớp nghe giảng tại các trường đại học Úc, nhưng vẫn bắt buộc phải tham gia các giờ thảo luận và thực hành.
Một nghiên cứu của đại học Western Australia, công bố tháng 02/2020, cho thấy, từ sau khi có quy định này, chỉ có 38% sinh viên đến nghe giảng. Trong đó, tuần đầu tiên của môn học có nhiều sinh viên đến lớp nhất (57%), tuần giữa học kỳ khi sinh viên phải nộp tiểu luận, chỉ có 26% sinh viên đến lớp, và buổi học cuối cùng của môn học có khoảng 35% sinh viên đến lớp. Tỷ lệ sinh viên dự giờ thảo luận và thực hành vẫn giữ mức cao (84%). Cũng theo nghiên cứu nêu trên, sinh viên không đến lớp vì nhiều lý do.
Lý do chủ yếu là người học chọn xem lại video bài giảng, để có thể chủ động xem lại, ghi chép và tìm thông tin bổ sung cho ghi chép (18%). Lý do thứ hai là do sinh viên bận đi làm, không thể dự giờ giảng, và chọn xem video sau giờ giảng (16%). Tiếp theo là các lý do như trùng giờ học với môn khác 13 Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail. Ngoài xu hướng trao quyền tự quyết cho người học, từ đầu năm 2020, do đại dịch Covid- 19, nhiều trường đại học đã tạm chấm dứt hình thức học trực tiếp trên lớp, chuyển sang hình thức học tập trực tuyến cả phần thuyết giảng, và phần thảo luận, thực hành.
Có thể nói học tập trực tuyến là phương thức học mới phù hợp với xu thế và tình thế, cụ thể là phù với trình độ phát triển và sử dụng công nghệ, xu hướng trao quyền cho người học, và đôi khi là phương thức duy nhất phải lựa chọn trong tình hình dịch bệnh đang ngày càng phức tạp. Tiếp đó, theo sự phát triển của nhu cầu học tập cũng như sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin, chúng ta ngày càng thấy nhiều hơn nữa các lựa chọn platform giáo dục trực tuyến cũng như những bài giảng trực tuyến hết sức sinh động được chuẩn hóa dưới các định dạng khác nhau cho phù hợp với nhu cầu người dùng. Chúng ta có thể hiểu về khoa học vũ trụ đầy bí hiểm, về lỗ đen hay sự hình thành các hành tinh, hiểu khoa vật lý thiên văn vốn khô khan bằng những phim đồ họa hay streaming video thì hứng thú hơn học “chay” trên sách vở rất nhiều. Theo khảo sát của Tổ chức Mạng lưới giáo dục châu Á - Thái Bình Dương (APQN): “Từ tháng 3 đến tháng 05/2020, tỷ lệ sinh viên không hài lòng khi tham gia học tập theo hình thức trực tuyến chiếm tỷ lệ rất cao đến 68%, cũng với kết quả khảo sát của tổ chức này vào tháng 07/2020, tỷ lệ không hài lòng giảm một nửa, chiếm khoảng 34%” (Nguồn tổ chức APQN 2020).
Số liệu trên cho thấy, đào tạo trực tuyến có sự dịch chuyển theo chiều hướng tích cực, các tổ chức giáo dục đã bắt đầu tập trung nguồn lực để có cải tiến cho chất lượng đào tạo tạo trực tuyến đạt hiệu quả nhất định. Theo xu thế đó, các trường đại học nỗ lực cải thiện như nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống moodle của các trường được đầu tư tối đa, tập huấn cải tiến phương pháp giảng dạy, các tài liệu thư viện điện tử được cập nhật liên tục, để có thể tác động đến ý thức học tập, tạo điều kiện cho sinh viên trong quá trình tiếp cận các vấn đề, chủ động tìm tòi kiến thức, tăng sự hứng thú say mê khám phá tri thức khoa học,. với mục tiêu đảm bảo chất lượng đào tạo trực tuyến. Tuy vậy, sự nỗ lực để đảm bảo chất lượng đào tạo trực tuyến không chỉ một phía từ nhà trường, mà còn từ phía sinh viên.
Sinh viên cần có thái độ học tập trực tuyến phù hợp như: sự hứng thú học tập, sự chủ động, tích cực tìm tòi tri thức dưới sự hướng dẫn của giảng viên… (Chúng tôi tìm hiểu sự hứng thú học tập online của sinh 14 Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 viên để biết hiện trạng đào tạo trực tuyến của các trường hiện nay, đồng thời đưa ra một số giải pháp giúp sinh viên hứng thú hơn trong học tập trực tuyến.2 Cơ sở lí luận về các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ học tập trực tuyến 1.1 Khái niệm thái độ học tập trực tuyến Khái niệm “thái độ” được sử dụng lâền đâều tiên với định nghĩa c ủa hai nhà tâm lý h ọc người Myẫ W.Znaniecki (1918): “Thái độ là tr ạng thái tinh thâền c ủa cá nhân đốối với một giá trị”. Trong Từ điển Tiêống Việt thì thái độ là “cách nhìn nh ận hành đ ộng c ủa cá nhân vêề một hướng nào đó trước một vâốn đêề, một tình huốống câền giải quyêốt. Đó là t ổng th ể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm cá nhân đốối v ới con ng ười hay m ột s ự việc nào đó”. Theo Ajzen và Fishbein (1980) thái độ là sự đánh giá tích c ực hay tiêu c ực đốối v ới m ột đốối tượng, con người hay một tình huốống cụ thể mà chúng ta c ảm nh ận đ ược và có hành vi đốối với chúng theo cách tích cực hoặc tiêu cực tương ứng.
Ba thành phâền c ơ b ản c ủa thái độ là nhận thức, cảm xúc, hành vi (Rosenberg và Hovland, 1960). Trong bài nghiên cứu sử dụng khái niệm “thái độ” trong từ điển tiếng Việt với cách thể hiện ý nghĩa rõ ràng nhất, tổng quát nhất. Đó là “tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó”. Từ khái niệm này, chúng ta hiểu rằng “thái độ học tập trực tuyến” chính là những cảm xúc, suy nghĩ của người học biểu hiện qua hành động cử chỉ đối với việc học tập, rèn luyện hằng ngày.