Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nông nghiệp với đề tài "Sử dụng bột lá sắn, keo giậu, Stylo trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng tại nông hộ trung du miền núi phía Bắc" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Từ Quang Trung, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Từ Quang Hiển tại Trường Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thị trường tiêu dùng thực phẩm đặt ra yêu cầu ngày càng khắt khe đối với sản phẩm gia cầm: sản phẩm vừa phải đáp ứng thị hiếu cảm quan đặc trưng (da gà có màu vàng sáng, lòng đỏ trứng có màu đỏ tươi), vừa phải bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, không tồn dư hóa chất độc hại. Trong thực tế chăn nuôi, các chế phẩm sắc tố tinh chiết tự nhiên hoặc sắc tố tổng hợp thương phẩm thường có giá thành cao làm tăng chi phí thức ăn; ngược lại, việc sử dụng các chất tạo màu hóa học giá rẻ chỉ mang tính đánh lừa thị giác mà không nâng cao giá trị dinh dưỡng, không cải thiện năng suất chăn nuôi và tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho sức khỏe con người.

Bột lá thực vật từ các loại cây giàu dinh dưỡng như sắn (Manihot esculenta Crantz), keo giậu (Leucaena leucocephala) và cỏ Stylo (Stylosanthes guianensis) là nguồn nguyên liệu giàu sắc tố carotenoids (khoảng 200 – 1.000 mg/kg vật chất khô) và giàu protein thô (từ 15% đến 34% vật chất khô). Mặc dù các nghiên cứu đơn lẻ trước đây đã ghi nhận tiềm năng của từng loại bột lá, tác giả luận án đã chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu thực tiễn sau:

  • Chưa có công trình nào tiến hành trồng khảo nghiệm đồng thời sắn lấy lá, keo giậu và cỏ Stylo trong cùng điều kiện đất đai, thời tiết và phương thức canh tác tại nông hộ vùng trung du miền núi phía Bắc để hạch toán đầy đủ chi phí sản xuất và xác định giá thành của 1 kg bột lá làm cơ sở so sánh hiệu quả kinh tế.
  • Chưa xác định giá trị năng lượng trao đổi của 3 loại bột lá trên có sự hiệu chỉnh theo lượng nitơ tích lũy trong cơ thể gà (MEN) đối với giống gà Lương Phượng.
  • Chưa tiến hành so sánh hệ thống giữa hai phương thức phối hợp bột lá vào khẩu phần: (1) phối hợp có cân đối lại năng lượng và protein theo tiêu chuẩn dinh dưỡng, và (2) thay thế trực tiếp một phần thức ăn hỗn hợp cơ sở bằng bột lá không cân đối lại năng lượng và protein đối với cả gà thịt và gà đẻ bố mẹ.
  • Chưa xây dựng được hệ thống đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật toàn diện nhằm xác lập thứ tự ưu tiên sản xuất và sử dụng 3 loại bột lá này trong chăn nuôi gia cầm nông hộ.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Xác định năng suất lá tươi, bột lá và giá thành 1 kg bột lá của cây sắn, keo giậu, cỏ Stylo được trồng trong điều kiện nông hộ làm cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và tạo nguồn nguyên liệu cho các thí nghiệm tiếp theo.
  2. Xác định năng lượng trao đổi của bột lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo trên gà thịt nhằm phục vụ cho việc phối hợp khẩu phần có chứa các bột lá được khoa học và chính xác hơn.
  3. Xác định hiệu quả của việc phối hợp bột lá vào khẩu phần có và không cân đối lại năng lượng, protein, từ đó đề ra cách thức phối hợp bột lá thích hợp vào khẩu phần của gà thịt và gà đẻ bố mẹ.
  4. Xác định loại bột lá nào sử dụng cho gà thịt và gà đẻ bố mẹ có hiệu quả hơn để định hướng cho việc sản xuất và sử dụng bột lá trong chăn nuôi gà.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây sắn giống KM 94, cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184, cây keo giậu Leucaena leucocephala; gà nuôi thịt và gà đẻ bố mẹ giống Lương Phượng (dòng LV).
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm trồng và chế biến bột lá tại nông hộ xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; thí nghiệm xác định năng lượng trao đổi và nuôi dưỡng gà thịt tại Trại chăn nuôi gia cầm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; thí nghiệm trên đàn gà đẻ bố mẹ tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi (Viện Chăn nuôi, đóng tại Thái Nguyên); khảo nghiệm tại nông hộ xã Cao Ngạn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; phân tích các chỉ tiêu hóa học tại Viện Khoa học Sự sống – Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ tháng 02/2014 đến tháng 02/2016 (trồng cây: 2/2014 – 2/2016; xác định năng lượng trao đổi: 6/2014; thí nghiệm gà thịt: 8 – 12/2014; thí nghiệm gà đẻ: 1/2015 – 1/2016).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước được luận án tổng thuật

Luận án đã hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước trên 4 hướng chính:

  1. Xác định giá trị năng lượng thức ăn gia cầm:

    • Phạm Tấn Nhã và cs. (2014) xác định năng lượng trao đổi chưa hiệu chỉnh và có hiệu chỉnh nitơ (MEN) của khẩu phần chứa bột cá tra, cám gạo, bã bia trên gà Lương Phượng lần lượt đạt 3.055,89 và 2.956,94 kcal/kg VCK; gà Cobb 500 đạt 3.128,58 và 3.011,41 kcal/kg VCK; gà Sao đạt 3.225,74 và 3.086,39 kcal/kg VCK.
    • Hồ Lê Quỳnh Châu (2014) xác định MEN của ngô (3.173 kcal/kg VCK), cám gạo (2.689 kcal/kg VCK), bột sắn (3.529 kcal/kg VCK), bột cá (2.121 kcal/kg VCK), khô dầu đậu tương (2.105 kcal/kg VCK).
    • Hồ Trung Thông và cs. (2012) xác định MEN của khô dầu dừa (1.635,28 kcal/kg VCK), khô dầu lạc (2.885,18 kcal/kg VCK), bột đầu tôm (1.982 kcal/kg VCK), tấm gạo (4.036,3 kcal/kg VCK).
    • Nguyễn Thị Mai (2001), Tôn Thất Sơn và Nguyễn Thị Mai (2007) xác định năng lượng trao đổi của các giống đậu tương (AK03 đạt 3.572 kcal/kg VCK, B10 đạt 3.716 kcal/kg VCK, DH4 đạt 3.554 kcal/kg VCK) theo phương pháp của Farrell (1978).
    • Đối với bột lá: Trần Thị Hoan (2012) công bố năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ của bột lá sắn là 2.110,10 kcal/kg VCK (1.867,65 kcal/kg nguyên trạng); Viện Chăn nuôi (2001) ước tính bột lá sắn đạt 2.194 kcal/kg VCK (1.966 kcal/kg nguyên trạng 89,60% VCK); Nguyễn Ngọc Hà (1996) xác định bột lá keo giậu tại Việt Nam đạt 2.300 kcal ME/kg.
  2. Ảnh hưởng của protein, năng lượng và tỷ lệ ME/CP trong khẩu phần:

    • Summer và Leeson (1984), Summers (2000), Leeson và Summer (1996), Holsheimer và Veerkamp (1992) chỉ ra rằng tăng năng lượng làm tăng tích lũy mỡ bụng, trong khi tăng protein làm tăng tỷ lệ nước và protein cơ thịt. Khẩu phần thấp năng lượng làm gà tăng tiêu thụ thức ăn.
    • Trần Quốc Việt và cs. (2000) khuyến cáo protein cho gà Tam Hoàng (19-18-17%) và gà Kabir (21-19-18%) theo các giai đoạn tuần tuổi. Dương Thanh Liêm và cs. (2006) cảnh báo dư thừa protein dẫn đến nồng độ đạm cặn và axit uric máu tăng cao, gây kết tủa urat ở thận và màng bao tim.
    • Trần Thanh Vân và cs. (2015) khuyến cáo mức protein 20 – 22% cho gà thịt thương phẩm. Vũ Duy Giảng và Bùi Đức Chính (2000), Từ Quang Hiển và cs. (2002), NRC (2002) phân tích nhu cầu protein (14,5 – 18,0%) và năng lượng (2.750 – 2.900 kcal/kg) của gà đẻ theo chu kỳ và màu sắc vỏ trứng.
    • Về tỷ lệ ME/CP: Nguyễn Duy Hoan và cs. (1999) đề xuất ME/P < 175 và protein > 18% để hạn chế tích mỡ bụng. Nguyễn Duy Hoan (2010) khuyến nghị tỷ lệ ME/CP = 185 cho gà Leghorn giai đoạn 150 – 300 ngày tuổi. Bùi Đức Lũng và cs. (2004) xác định tỷ lệ ME/P = 162 cho gà sinh sản giống ISA (25 – 43 tuần tuổi) đạt sản lượng trứng giống và gà loại I tối ưu. Từ Quang Hiển và cs. (2013) tổng kết tỷ lệ ME/P thích hợp cho gà thịt qua các giai đoạn (125 – 140 giai đoạn khởi động; 140 – 150 giai đoạn sinh trưởng; 155 – 165 giai đoạn kết thúc).
  3. Sắc tố thực vật và vai trò sinh học:

    • Roche (1988) đưa ra thang điểm màu lòng đỏ (châu Mỹ 7 – 10 điểm; châu Âu và châu Á 10 – 14 điểm). Gouveia et al. (1996), Sirri et al. (2007), Bornstein (1996) xác định gà mái chuyển hóa 20 – 60% xanthophyll từ thức ăn vào buồng trứng và lòng đỏ. De Groote (1970), Lignell et al. (2000) ghi nhận astaxanthin và carotenoids cải thiện sức đề kháng, giảm nhiễm trùng do Salmonella.
    • Liufa et al. (1997), Latscha (1990), Mourão et al. (2008), Wiliams (1992) phân tích vai trò của lutein, zeaxanthin, canthaxanthin trong tạo màu da và thịt gà. Các nghiên cứu trên động vật khác gồm Watanabe et al. (2003), Aquis et al. (2001), Ilyasov và Golovin (2003), Waagbo et al. (2003), Li et al. (2004).
    • Hàm lượng caroten trong nguyên liệu: Bột lá sắn đạt 476 – 625 mg/kg VCK (Trần Thị Hoan, 2012); bột cỏ Stylo CIAT 184 đạt 228 – 259 mg/kg VCK (Hồ Thị Bích Ngọc, 2012); bột lá keo giậu đạt 227 – 248 mg/kg VCK (Từ Quang Hiển, 2008) và lên tới 480 mg/kg VCK khi phơi nắng nhanh (Nguyễn Đức Hùng, 2004).
  4. Đặc tính nông học, độc tố và mức độ sử dụng bột lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo:

    • Năng suất sinh khối và thành phần: Cỏ Stylo đạt 25 – 60 tấn chất xanh/ha/năm (Lê Hòa và Bùi Quang Tuấn, 2009; Lê Xuân Đông và cs., 2012; Hồ Thị Bích Ngọc, 2012), protein thô 15 – 18% VCK, xơ thô 28 – 31% VCK; Keo giậu đạt 40 – 45 tấn sinh khối và 10 – 20 tấn lá tươi/ha/năm (Lê Hòa Bình và cs., 1990; Từ Quang Hiển và cs., 2008; NAS, 1984), protein thô trung bình 29,2% VCK (24,0 – 34,4% VCK), xơ thô 19,2% VCK; Sắn thu lá đạt 50 – 60 tấn cành lá non và 8 – 15 tấn lá tươi/ha/năm (Cadavid, 2002; Atchara et al., 2002; Lê Đức Ngoan và cs., 2006; Trần Thị Hoan, 2012), protein thô 20 – 32% VCK, xơ thô khoảng 12% VCK.
    • Độc tố và biện pháp xử lý: HCN trong lá sắn (80 – 110 mg/kg lá tươi ở giống ngọt; 160 – 240 mg/kg ở giống đắng theo Trần Ngọc Ngoạn, 2007; giảm từ 333 mg/kg VCK ở lá tươi xuống 60 mg/kg VCK sau khi phơi khô theo Chhay et al., 2012); Mimosin trong lá keo giậu (3 – 9% VCK theo Hauad Marroquin et al., 1991; đạt 7,1% lúc 13 ngày tuổi và giảm xuống 4,2% lúc 60 ngày tuổi theo Deshmukh et al., 1987). Phương pháp phơi khô, băm nhỏ và nghiền bột giúp loại bỏ phần lớn độc tố HCN và giảm mimosin.
    • Thử nghiệm trên gà thịt: Mức phối hợp thích hợp là 2 – 4% (Trần Thị Hoan, 2012; Iheukwumere et al., 2008; Nguyễn Đức Hùng, 2004; Từ Quang Hiển và cs., 2008; Onibi et al., 2008; Hồ Thị Bích Ngọc, 2012; Bai Changjun et al., 2004). Tỷ lệ > 6% đối với sắn và Stylo hoặc > 5% đối với keo giậu chưa xử lý làm giảm tăng trọng do độc tố hoặc hàm lượng xơ cao.
    • Thử nghiệm trên gà đẻ: Mức phối hợp thích hợp là 4 – 6% (Duong Thanh Liem et al., 1998; Trần Thị Hoan, 2012; Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1993; Từ Quang Hiển và cs., 2008; Abou-Elezz et al., 2011; Hồ Thị Bích Ngọc, 2012). Tỷ lệ vượt quá 8 – 10% làm giảm tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng giống (Buitrago et al., 2002; Onwudike và Adegbola, 1978).

Vị trí và giải pháp của luận án

Kế thừa các công bố trên, luận án giải quyết trọn vẹn chuỗi liên hoàn: trồng trọt đồng thời 3 loại cây thức ăn để tính giá thành thực tế $\rightarrow$ đo lường chính xác MEN $\rightarrow$ thiết kế 2 cách thức phối hợp thức ăn (cân đối lại vs không cân đối lại ME và CP) $\rightarrow$ đánh giá thực nghiệm trên đàn gà thịt và gà đẻ giống Lương Phượng tại nông hộ miền núi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng trong dinh dưỡng gia cầm: Tổng năng lượng thô (GE) ăn vào được phân giải theo cân bằng: $$\text{GE} = \text{FE} + \text{UE} + \text{HE} + \text{NE}$$ Do đặc điểm giải phẫu phân và nước tiểu thải chung qua lỗ huyệt, ở gia cầm năng lượng mất qua nước tiểu (UE) đáng kể trong khi nhiệt gia tăng (HE) nhỏ, vì vậy chỉ tiêu năng lượng trao đổi ($\text{ME} = \text{GE} - \text{FE} - \text{UE}$) và năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ tích lũy ($\text{ME}_N$) là thước đo khoa học chuẩn xác để đánh giá giá trị thức ăn.
  • Lý thuyết cân bằng ME/CP và vai trò chất kháng dinh dưỡng: Đánh giá phản ứng sinh trưởng và khả năng sinh sản dựa trên mối quan hệ giữa hàm lượng protein thô, năng lượng trao đổi, mức xơ thô và nồng độ độc tố (HCN, mimosin) trong khẩu phần.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án triển khai 4 thí nghiệm thực nghiệm và các nội dung khảo nghiệm sản xuất:

Thí nghiệm Nội dung & Phương pháp Quy mô, mẫu & Công cụ
Thí nghiệm 1 Xác định năng suất sinh khối, lá tươi, bột lá và giá thành 1 kg bột lá theo phương pháp nghiên cứu đồng cỏ (Từ Quang Hiển và cs., 2001) và thí nghiệm đồng ruộng (Đỗ Thị Ngọc Oanh và Hoàng Văn Phụ, 2012). Diện tích 500 m$^2$/loại cây (100 m$^2$ $\times$ 5 lần lặp lại). Sắn KM 94 (31.250 hom/ha), keo giậu (20 kg hạt/ha), cỏ Stylo CIAT 184 (8 kg hạt/ha). Theo dõi khí tượng, phân tích đất, thu hoạch, chế biến và hạch toán chi phí/ha.
Thí nghiệm 2 Xác định năng lượng trao đổi (ME) và hiệu chỉnh nitơ ($\text{ME}_N$) theo phương pháp nuôi lồng trao đổi chất. 4 khẩu phần: KPCS (đối chứng), KPTN1 (80% KPCS + 20% bột lá sắn), KPTN2 (80% KPCS + 20% bột lá keo giậu), KPTN3 (80% KPCS + 20% bột cỏ Stylo). 120 gà Lương Phượng (30 con/khẩu phần; 5 lồng/khẩu phần, mỗi lồng 3 trống + 3 mái, 49 – 56 ngày tuổi). Phân tích VCK, CP, GE bằng bom nhiệt lượng kế.
Thí nghiệm 3 Đánh giá ảnh hưởng của bột lá và cách phối hợp khẩu phần đến khả năng sản xuất thịt của gà Lương Phượng (từ 1 đến 10 tuần tuổi). Bố trí 7 lô thí nghiệm: Lô ĐC; Lô LS1, KG1, ST1 (Cách 1: phối hợp bột lá có cân đối lại ME và CP); Lô LS2, KG2, ST2 (Cách 2: thay thế trực tiếp bột lá vào KPCS không cân đối lại ME và CP). Theo dõi tỷ lệ sống, tăng trọng, FCR, PI, EN, mổ khảo sát thân thịt lúc 10 tuần tuổi và khảo nghiệm nông hộ.
Thí nghiệm 4 Đánh giá ảnh hưởng của bột lá và cách phối hợp khẩu phần đến năng suất, chất lượng trứng gà đẻ bố mẹ Lương Phượng (giai đoạn 25 – 40 tuần tuổi). Bố trí 7 lô thí nghiệm tương tự Thí nghiệm 3 (ĐC, LS1, KG1, ST1, LS2, KG2, ST2). Theo dõi tỷ lệ sống, tỷ lệ đẻ, sản lượng trứng, chất lượng lý hóa trứng, tích lũy carotenoids và điểm quạt màu Roche (ngày 1 – 10), tỷ lệ ấp nở, gà con loại I, chi phí thức ăn/gà con loại I và khảo nghiệm nông hộ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ các đợt cân đo sinh khối, ghi chép nhật ký tiêu thụ thức ăn, phân tích hóa nghiệm mẫu đất, phân tích thành phần nguyên liệu và chất thải tại Viện Khoa học Sự sống – Đại học Thái Nguyên; dữ liệu khí tượng từ Trạm quan trắc khí tượng thủy văn Thái Nguyên; tiêu chuẩn đối chiếu theo TCVN 9117:2011 về giống gà Lương Phượng LV.

Tiêu chuẩn giống gà Lương Phượng LV (Trích TCVN 9117:2011 nêu trong luận án):
- Gà hậu bị (23 - 24 tuần): Tỷ lệ sống >= 91%; Khối lượng trống 2,6 - 2,8 kg; Mái 2,0 - 2,2 kg.
- Gà mái sinh sản: Tuổi đẻ đầu 23 - 24 tuần; Sản lượng trứng/mái/68 tuần >= 160 quả; Khối lượng trứng 50 - 53 g; Tỷ lệ trứng giống >= 90%; Ấp nở/trứng ấp >= 80%; Chết loại/tháng <= 2,0%; Tiêu tốn TĂ/10 trứng <= 3,0 kg; Gà con giống/mái/năm >= 40 con.
- Gà thương phẩm (70 ngày nuôi): Tỷ lệ sống >= 95%; Khối lượng xuất bán 1,8 - 2,2 kg; FCR <= 2,7 kg TĂ/kg tăng trọng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tập trung tổng thuật 5 nhóm nội dung nền tảng:

  • Phân tích nguyên lý chuyển hóa năng lượng ($GE \rightarrow FE \rightarrow UE \rightarrow HE \rightarrow NE$), phương pháp xác định năng lượng trao đổi (buồng trao đổi chất, giết mổ so sánh, cân bằng nitơ - cacbon) và các công thức ước tính năng lượng trao đổi qua TDN và thành phần hóa học.
  • Đánh giá vai trò của protein, axit amin, năng lượng khẩu phần và tỷ lệ cân đối ME/CP đối với sự tích lũy nạc, mỡ thân thịt gà thương phẩm và năng suất sinh sản của gà đẻ.
  • Cơ chế sinh hóa và sự phân bố của các nhóm sắc tố thực vật (chlorophyll, carotenoids, flavonoids, betalains); vai trò của xanthophyll (lutein, zeaxanthin) và carotene trong tạo màu vàng cho da gà, tăng điểm quạt màu lòng đỏ trứng, cải thiện tỷ lệ thụ tinh và ấp nở.
  • Đặc điểm thực vật học, năng suất sinh khối, thành phần hóa học, đặc tính độc tố (HCN trong sắn, mimosin trong keo giậu) và các giải pháp sơ chế khử độc của cây sắn, keo giậu, cỏ Stylo.
  • Tổng kết các kết quả ứng dụng bột lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo trong chăn nuôi gia cầm trên thế giới và tại Việt Nam; giới thiệu nguồn gốc, đặc điểm ngoại hình và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của giống gà Lương Phượng (dòng LV).

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả toàn bộ thiết kế thực nghiệm:

  • Trình bày quy trình canh tác, chế độ bón phân, kỹ thuật thu hoạch và sơ chế bột lá: sắn tách lá băm nhỏ phơi 1 – 2 nắng; keo giậu phơi cả cành đập lấy lá; cỏ Stylo cắt bỏ gốc già, băm nhỏ phơi 3 nắng; tất cả nghiền mịn và đóng bao nilon bảo quản.
  • Thiết kế thí nghiệm trao đổi chất xác định ME và $\text{ME}_N$ trên 120 gà Lương Phượng 49 – 56 ngày tuổi với 4 khẩu phần.
  • Thiết kế thí nghiệm nuôi dưỡng trên gà thịt Lương Phượng từ 1 đến 10 tuần tuổi và đàn gà đẻ bố mẹ Lương Phượng từ 25 đến 40 tuần tuổi theo 7 lô đối chứng và thí nghiệm.
  • Thiết lập công thức và thành phần dinh dưỡng của thức ăn cơ sở và thức ăn thí nghiệm cho các giai đoạn phát triển của gà thịt và gà đẻ.
  • Chi tiết hóa các phương pháp mổ khảo sát thân thịt, phân tích sắc tố carotenoids quang phổ, đánh giá điểm quạt màu Roche và các phương pháp thống kê sinh học xử lý số liệu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu được từ các thực nghiệm:

  • Năng suất, sản lượng và giá thành bột lá: Phân tích điều kiện khí tượng và dinh dưỡng đất tại vùng thí nghiệm (xã Hóa Trung, Thái Nguyên); công bố năng suất sinh khối, năng suất lá tươi/hữu dụng, tỷ lệ chuyển đổi bột lá và hạch toán chi phí sản xuất 1 kg bột lá cho từng loại cây thức ăn.
  • Năng lượng trao đổi hiệu chỉnh nitơ ($\text{ME}_N$): Kết quả phân tích tỷ lệ VCK, CP, GE trong khẩu phần cơ sở, các khẩu phần thí nghiệm, 3 loại bột lá và trong chất thải của gà; xác định lượng nitơ tích lũy và công bố giá trị năng lượng trao đổi trước và sau hiệu chỉnh nitơ của bột lá sắn, bột lá keo giậu và bột cỏ Stylo.
  • Hiệu quả trên đàn gà thịt Lương Phượng: Tác động của 3 loại bột lá và 2 cách thức phối hợp đến tỷ lệ nuôi sống, sinh trưởng tích lũy và tuyệt đối qua các tuần tuổi; lượng thức ăn thu nhận và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR); chỉ số sản xuất (PI) và chỉ số kinh tế (EN); các chỉ tiêu năng suất thân thịt (tỷ lệ thịt xẻ, thịt đùi, thịt ngực, độ mất nước, thành phần dinh dưỡng); chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng và kết quả khảo nghiệm tại nông hộ xã Cao Ngạn.
  • Hiệu quả trên đàn gà đẻ bố mẹ Lương Phượng: Tác động đến tỷ lệ nuôi sống, động thái tỷ lệ đẻ theo tuần, năng suất và sản lượng trứng; các chỉ tiêu chất lượng vật lý và hóa học của trứng; tốc độ tích lũy carotenoids và điểm quạt màu lòng đỏ từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 10; các chỉ tiêu ấp nở (tỷ lệ phôi, tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp); tiêu tốn và chi phí thức ăn cho 10 quả trứng, trứng giống và 1 gà con giống loại I; kết quả khảo nghiệm thực tiễn tại nông hộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Xác định chính xác giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($\text{ME}_N$) của bột lá sắn, bột lá keo giậu và bột cỏ Stylo chuyên biệt cho giống gà Lương Phượng, bổ sung dữ liệu vào bảng thành phần dinh dưỡng thức ăn gia cầm Việt Nam.
  2. Chứng minh nguyên lý phối hợp khẩu phần: Loại bột lá có năng lượng trao đổi không thấp, giàu protein thô và tỷ lệ xơ thấp (như bột lá sắn, keo giậu) thì thay thế một phần thức ăn hỗn hợp cơ sở không cần cân đối lại protein và năng lượng vẫn mang lại hiệu quả tốt; ngược lại, loại bột lá có tỷ lệ protein không cao, năng lượng thấp và hàm lượng xơ cao (như cỏ Stylo) nếu không cân đối lại ME và CP sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng và tỷ lệ đẻ.
  3. Chứng minh quy luật tích tụ sắc tố trong lòng đỏ trứng tăng liên tục theo thời gian gà đẻ được ăn khẩu phần có chứa bột lá từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 10; đồng thời xác định mối quan hệ tương quan thuận chặt chẽ giữa hàm lượng carotenoids trong lòng đỏ với tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ gà con loại I.
  4. Xác lập luận cứ khoa học để xếp thứ tự ưu tiên kinh tế - kỹ thuật của 3 loại bột lá trong sản xuất và sử dụng cho chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố mẹ: (1) Bột lá sắn, (2) Bột lá keo giậu, (3) Bột cỏ Stylo.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Hạch toán cụ thể giá thành sản xuất 1 kg bột lá của sắn, keo giậu và cỏ Stylo được trồng trong điều kiện nông hộ vùng trung du miền núi phía Bắc, cung cấp cơ sở để người chăn nuôi chủ động nguồn nguyên liệu thay thế tại chỗ.
  • Đề xuất hướng dẫn kỹ thuật cho người chăn nuôi về cách thức phối hợp bột lá vào khẩu phần:
    • Đối với bột lá sắn và keo giậu: Có thể phối hợp theo cả 2 cách thức (cân đối lại hoặc thay thế trực tiếp không cân đối lại ME và CP) ở tỷ lệ thích hợp 2 – 4% cho gà thịt và 4 – 6% cho gà đẻ.
    • Đối với bột cỏ Stylo: Khi phối hợp bắt buộc phải cân đối lại protein và năng lượng theo tiêu chuẩn để tránh làm giảm năng suất do hàm lượng xơ cao.
  • Cung cấp giải pháp kỹ thuật hạ giá thành sản xuất gà giống và gà thịt thương phẩm, đồng thời nâng cao chất lượng cảm quan sản phẩm đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng mà không cần sử dụng hóa chất tạo màu độc hại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các thí nghiệm nông học và nuôi dưỡng được tiến hành trên 3 giống cây cụ thể (sắn KM 94, keo giậu L. leucocephala, cỏ Stylo CIAT 184) và một giống gà chuyên biệt (Lương Phượng LV) tại tiểu vùng khí hậu trung du miền núi phía Bắc. Quy trình sơ chế bột lá ở quy mô nông hộ phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện thời tiết phơi nắng tự nhiên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu công nghệ sấy và bảo quản bột lá quy mô hợp tác xã nhằm giảm thiểu tối đa tổn thất oxy-carotenoids trong điều kiện bảo quản dài ngày; mở rộng thử nghiệm xác định giá trị $\text{ME}_N$ và cách thức phối hợp 3 loại bột lá trên các giống gà thả vườn bản địa khác (như gà Ri, gà Mía, gà Tiên Yên).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Chăn nuôi, Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi: Tham khảo phương pháp xác định năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($\text{ME}_N$), phương pháp thiết kế thí nghiệm buồng trao đổi chất và cách đánh giá động thái tích lũy sắc tố quang phổ.
  • Cán bộ nghiên cứu cây thức ăn gia súc và khuyến nông: Tham khảo quy trình canh tác sắn thu lá, keo giậu, cỏ Stylo, định mức phân bón, chu kỳ cắt và phương pháp chế biến bột lá ở quy mô nông hộ.
  • Các trang trại, doanh nghiệp sản xuất giống gia cầm và người chăn nuôi gia cầm: Ứng dụng công thức phối trộn bột lá sắn, keo giậu vào khẩu phần gà thịt và gà đẻ bố mẹ nhằm tăng tỷ lệ ấp nở, nâng cao điểm màu lòng đỏ, cải thiện độ vàng da gà thịt và hạ chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm giống.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao việc đánh giá giá trị năng lượng thức ăn ở gia cầm lại sử dụng năng lượng trao đổi (ME) thay vì năng lượng tiêu hóa (DE) hay năng lượng thuần (NE)?

Theo nguyên lý chuyển hóa năng lượng trình bày trong luận án, gia cầm có đặc điểm sinh lý thải chung phân và nước tiểu qua lỗ huyệt, lượng năng lượng mất qua nước tiểu và khí tiêu hóa (UE) tương đối nhiều trong khi năng lượng nhiệt cơ thể (HE) thấp. Do đó, năng lượng trao đổi ($\text{ME} = \text{GE} - \text{FE} - \text{UE}$) là chỉ tiêu phản ánh chính xác nhất năng lượng khả dụng cho cơ thể gia cầm so với năng lượng tiêu hóa (thường dùng cho lợn) hay năng lượng thuần (thường dùng cho gia súc nhai lại).

2. Hàm lượng carotenoids và protein thô trong bột lá sắn, keo giậu và cỏ Stylo được ghi nhận ở mức nào?

Theo tổng quan tài liệu trong luận án:

  • Protein thô: Bột lá keo giậu đạt trung bình 29,2% VCK (dao động 24,0 – 34,4%); bột lá sắn đạt 20 – 32% VCK; bột cỏ Stylo đạt 15 – 18% VCK.
  • Carotenoids (Caroten): Bột lá sắn đạt 476 – 625 mg/kg VCK; bột lá keo giậu đạt 227 – 248 mg/kg VCK (có thể lên tới 480 mg/kg VCK khi phơi nắng nhanh); bột cỏ Stylo CIAT 184 đạt 228 – 259 mg/kg VCK (khi phơi phô nghiền bột điều kiện thuận lợi đạt 417,02 – 423,82 mg/kg VCK).

3. Độc tố chính trong lá sắn và lá keo giậu là gì và phương pháp xử lý nào hiệu quả nhất?

Lá sắn chứa độc tố axit hydrocyanic (HCN) với hàm lượng 80 – 240 mg/kg lá tươi tùy giống sắn ngọt hay đắng; lá keo giậu chứa độc tố mimosin với hàm lượng từ 3% đến 9% VCK. Phương pháp xử lý hiệu quả nhất được luận án khẳng định là phơi khô nhanh dưới ánh nắng mặt trời và nghiền thành bột mịn, giúp hàm lượng HCN trong lá sắn giảm xuống chỉ còn 1 – 2 mg% và hàm lượng mimosin trong keo giậu giảm đáng kể, an toàn cho gia cầm sử dụng.

4. Hai cách thức phối hợp bột lá vào khẩu phần được thử nghiệm trong luận án khác nhau như thế nào?

  • Cách 1 (Lô LS1, KG1, ST1): Phối hợp bột lá vào khẩu phần cơ sở và tiến hành tính toán cân đối lại hàm lượng năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) ngang bằng với khẩu phần đối chứng theo đúng tiêu chuẩn dinh dưỡng.
  • Cách 2 (Lô LS2, KG2, ST2): Thay thế trực tiếp một tỷ lệ thức ăn hỗn hợp cơ sở bằng bột lá mà không cân đối lại ME và CP, chấp nhận sự biến động tự nhiên về mức ME, CP và tỷ lệ ME/CP trong khẩu phần.

5. Thứ tự ưu tiên kinh tế - kỹ thuật của 3 loại bột lá được luận án xếp hạng như thế nào?

Dựa trên việc so sánh tổng hợp giữa giá thành sản xuất bột lá, giá trị dinh dưỡng ($\text{ME}_N$, protein, xơ, carotenoids) và hiệu quả nâng cao năng suất thịt, chất lượng trứng giống của gà Lương Phượng, luận án xếp thứ tự ưu tiên: (1) Bột lá sắn, (2) Bột lá keo giậu, (3) Bột cỏ Stylo.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Từ Quang Trung là công trình khoa học thực nghiệm hoàn chỉnh về việc sản xuất và sử dụng bột lá sắn, keo giậu và cỏ Stylo trong chăn nuôi gà Lương Phượng tại nông hộ trung du miền núi phía Bắc. Công trình đã xác định chính xác giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($\text{ME}_N$) của 3 loại bột lá và làm sáng tỏ cơ chế tác động của hai phương thức phối hợp khẩu phần đến sinh trưởng, chất lượng thân thịt và khả năng sinh sản của gà. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật cao của việc bổ sung bột lá sắn và keo giậu nhằm thay thế chất tạo màu hóa học, nâng cao tỷ lệ ấp nở và hạ giá thành chăn nuôi gia cầm. Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, đóng góp thiết thực cho cả lý luận dinh dưỡng động vật và thực tiễn sản xuất chăn nuôi nông hộ.