Luận án tiến sĩ sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố mẹ lương phượng tại nông hộ trung du miền núi phía bắc

Tài liệu Sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi - Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Nghiên cứu xác định giá trị năng lượng của thức ăn vật nuôi

1.1.1. Nguyên lý và phương pháp nghiên cứu

1.2. Ảnh hưởng của protein và năng lượng trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà thịt và gà đẻ

1.2.1. Ảnh hưởng của protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà thịt và gà đẻ

1.2.2. Ảnh hưởng của năng lượng trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà thịt và gà đẻ

1.2.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ giữa năng lượng, protein đến khả năng sản xuất của gà thịt và gà đẻ

1.3. Sắc tố trong thực vật và vai trò của sắc tố đối với vật nuôi

1.3.1. Sắc tố trong thực vật và trong thức ăn chăn nuôi

1.3.2. Vai trò của sắc tố thực vật đối với vật nuôi

1.4. Giới thiệu về cây sắn, keo giậu, cỏ Stylo

1.4.1. Nguồn gốc, đặc điểm sinh vật của cây sắn, keo giậu và cỏ Stylo

1.4.2. Năng suất chất xanh, bột lá của cây sắn, keo giậu và cỏ Stylo

1.4.3. Thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng của lá sắn, keo giậu và cỏ Stylo

1.4.4. Độc tố và phương pháp khử độc tố của lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo

1.4.5. Kết quả nghiên cứu sử dụng bột lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo trong chăn nuôi gà thịt, gà đẻ ở trong nước và ngoài nước

1.4.5.1. Kết quả nghiên cứu sử dụng bột lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo trong chăn nuôi gà thịt
1.4.5.2. Kết quả nghiên cứu bột lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo trong chăn nuôi gà đẻ

1.4.6. Giới thiệu về giống gà Lương Phượng

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

2.1.3. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thí nghiệm 1: Xác định năng suất, sản lượng và giá thành của bột lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo

2.3.2. Thí nghiệm 2: Xác định năng lượng trao đổi của 3 loại bột lá có sự hiệu chỉnh theo lượng nitơ tích lũy trong cơ thể gà

2.3.3. Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của bột lá và cách thức phối hợp bột lá vào khẩu phần đến khả năng sản xuất thịt của gà Lương Phượng

2.3.4. Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của bột lá và cách thức phối hợp bột lá vào khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ Lương Phượng. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Xác định năng suất, sản lượng và giá thành của bột lá sắn, keo giậu, cỏ Stylo

3.1.1. Khí tượng khu vực thí nghiệm từ 2014 – 2015

3.1.2. Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm

3.1.3. Năng suất sinh khối của các cây thức ăn thí nghiệm

3.1.4. Năng suất lá tươi của các cây thức ăn thí nghiệm

3.1.5. Năng suất bột lá của các cây thức ăn thí nghiệm

3.1.6. Sản lượng lá tươi, bột lá và năng lượng của ba cây thức ăn thí nghiệm

3.1.7. Chi phí sản xuất cho 1 kg bột lá

3.2. Xác định năng lượng trao đổi của bột lá sắn, keo giậu và Stylo có sự hiệu chỉnh theo lượng nitơ tích lũy trong cơ thể gà

3.2.1. Kết quả phân tích VCK, CP và GE của khẩu phần và bột lá

3.2.2. Kết quả phân tích VCK, CP và GE trong chất thải của gà các lô thí nghiệm

3.2.3. Kết quả xác định nitơ trong VCK của các khẩu phần, chất thải và ME hiệu chỉnh

3.2.4. Kết quả xác định năng lượng trao đổi trước và sau hiệu chỉnh của KPCS, các KPTN và của 3 loại bột lá

3.3. Ảnh hưởng của bột lá và cách thức phối hợp bột lá vào khẩu phần đến khả năng suất thịt của gà Lương Phượng

3.3.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm

3.3.2. Khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm

3.3.3. Ảnh hưởng của cách thức phối trộn bột lá vào khẩu phần đến khả năng thu nhận, chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm

3.3.4. Ảnh hưởng của cách thức phối trộn bột lá trong khẩu phần đến chỉ số sản xuất PI và chỉ số kinh tế EN của gà thí nghiệm

3.3.5. Ảnh hưởng của bột lá và cách thức phối hợp của bột lá vào khẩu phần đến chất lượng thân thịt của gà thí nghiệm

3.3.6. Ảnh hưởng của bột lá và cách thức phối trộn bột lá trong khẩu phần đến chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm

3.3.7. Khảo nghiệm tại nông hộ

3.4. Ảnh hưởng của bột lá và cách thức phối hợp bột lá vào khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ Lương Phượng

3.4.1. Ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của các lô gà thí nghiệm

3.4.2. Ảnh hưởng đến tỷ lệ đẻ của các lô gà thí nghiệm

3.4.3. Ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng trứng của các lô gà thí nghiệm

3.4.4. Ảnh hưởng của bột lá và cách thức phối trộn bột lá đến một số chỉ tiêu vật lý, hóa học của trứng gà các lô thí nghiệm

3.4.5. Sự tích lũy sắc tố và điểm số quạt trong lòng đỏ trứng theo thời gian gà được ăn khẩu phần có bột lá. Ảnh hưởng của bột lá và cách thức phối hợp bột lá vào khẩu phần đến chất lượng trứng ấp

3.4.6. Ảnh hưởng đến tiêu tốn và chi phí thức ăn cho một gà con loại I

3.4.7. Khảo nghiệm tại nông hộ

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong chăn nuôi gà thịtgà đẻ bố mẹ lương phượng tại miền núi phía Bắc. Mục tiêu chính là đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các loại bột lá này trong khẩu phần ăn của gà, nhằm cải thiện tăng trưởng gà, chất lượng trứng, và giảm chi phí thức ăn. Nghiên cứu cũng xác định giá trị dinh dưỡng và năng lượng trao đổi của các loại bột lá, từ đó đề xuất phương pháp phối hợp tối ưu trong chăn nuôi gia cầm.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Việc sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong chăn nuôi gà không chỉ giúp cải thiện màu sắc da và lòng đỏ trứng mà còn đảm bảo an toàn thực phẩm. Các chất tạo màu tổng hợp tuy rẻ nhưng có thể gây độc hại, trong khi bột lá tự nhiên vừa an toàn vừa giàu proteinsắc tố. Nghiên cứu này nhằm giải quyết vấn đề thiếu thông tin về giá thành, giá trị dinh dưỡng, và hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại bột lá này trong nông nghiệp bền vững.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm xác định năng suất lá tươi, bột lá, và giá thành của cây sắn, keo giậu, và cỏ Stylo. Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định năng lượng trao đổi của các loại bột lá này và đánh giá hiệu quả của việc phối hợp chúng vào khẩu phần ăn của gà thịtgà đẻ bố mẹ. Kết quả sẽ giúp định hướng sản xuất và sử dụng bột lá trong chăn nuôi gia cầm một cách hiệu quả.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các thí nghiệm nhằm xác định năng suất, sản lượng, và giá thành của bột lá sắn, keo giậu, và cỏ Stylo. Các thí nghiệm cũng đo lường năng lượng trao đổi của các loại bột lá này và đánh giá ảnh hưởng của chúng đến tăng trưởng gà, chất lượng trứng, và hiệu quả kinh tế. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc sử dụng khẩu phần cơ sởkhẩu phần thí nghiệm để so sánh hiệu quả.

2.1. Thí nghiệm xác định năng suất và giá thành

Thí nghiệm này nhằm xác định năng suất lá tươi, bột lá, và giá thành của cây sắn, keo giậu, và cỏ Stylo. Kết quả cho thấy cỏ Stylo có năng suất bột lá cao nhất, tiếp theo là keo giậucây sắn. Giá thành sản xuất bột lá cũng được tính toán để đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại bột lá này trong chăn nuôi gia cầm.

2.2. Thí nghiệm xác định năng lượng trao đổi

Thí nghiệm này xác định năng lượng trao đổi của bột lá sắn, keo giậu, và cỏ Stylo trên gà thịt. Kết quả cho thấy cỏ Stylo có năng lượng trao đổi cao nhất, tiếp theo là keo giậucây sắn. Điều này giúp phối hợp khẩu phần ăn một cách khoa học và chính xác hơn, từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong chăn nuôi gà mang lại hiệu quả cao về cả tăng trưởng gàchất lượng trứng. Cỏ Stylo được đánh giá là có hiệu quả kinh tế cao nhất, tiếp theo là keo giậucây sắn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc phối hợp bột lá vào khẩu phần ăn không cần cân đối lại proteinnăng lượng vẫn đạt hiệu quả tốt, giúp giảm chi phí thức ăn.

3.1. Hiệu quả trên gà thịt

Việc sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong khẩu phần ăn của gà thịt giúp cải thiện tăng trưởng gàhiệu quả sử dụng thức ăn. Cỏ Stylo cho kết quả tốt nhất về tăng trưởng và hiệu quả kinh tế, tiếp theo là keo giậucây sắn. Kết quả này khẳng định tiềm năng của việc sử dụng bột lá trong chăn nuôi gia cầm.

3.2. Hiệu quả trên gà đẻ bố mẹ

Nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong khẩu phần ăn của gà đẻ bố mẹ giúp cải thiện chất lượng trứngtỷ lệ đẻ. Cỏ Stylo được đánh giá là có hiệu quả cao nhất, tiếp theo là keo giậucây sắn. Kết quả này giúp định hướng sản xuất và sử dụng bột lá trong chăn nuôi gia cầm một cách hiệu quả.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu khẳng định việc sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong chăn nuôi gà mang lại hiệu quả cao về cả tăng trưởng gàchất lượng trứng. Cỏ Stylo được đánh giá là có hiệu quả kinh tế cao nhất, tiếp theo là keo giậucây sắn. Nghiên cứu đề xuất việc ưu tiên sản xuất và sử dụng cỏ Stylo trong chăn nuôi gia cầm, đồng thời tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng các loại bột lá này.

4.1. Kết luận

Nghiên cứu đã xác định được năng suất, giá thành, và giá trị dinh dưỡng của bột lá sắn keo giậu stylo. Việc sử dụng các loại bột lá này trong chăn nuôi gà mang lại hiệu quả cao về cả tăng trưởng gàchất lượng trứng. Cỏ Stylo được đánh giá là có hiệu quả kinh tế cao nhất, tiếp theo là keo giậucây sắn.

4.2. Đề xuất

Nghiên cứu đề xuất việc ưu tiên sản xuất và sử dụng cỏ Stylo trong chăn nuôi gia cầm, đồng thời tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng các loại bột lá này. Cần có các chính sách hỗ trợ để phát triển nông nghiệp bền vữngchăn nuôi gia cầm tại miền núi phía Bắc.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghiên cứu xác định giá trị năng lượng của thức ăn vật nuôi 1. Nguyên lý và phương pháp nghiên cứu * Nguyên lý Nguyên lý của phương pháp xác định giá trị năng lượng của thức ăn vật nuôi là dựa vào định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Đó là, “Trong một hệ thống, tổng số nhiệt năng sẽ không thay đổi (không tăng lên cũng không mất đi) mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác”.

Trong hệ thống năng lượng (NL) của thức ăn được vật nuôi ăn vào sẽ chuyển hóa như sau: NL thô (GE) NL phân (FE) NL tiêu hóa (DE) NL nước tiểu và khí đường tiêu hóa (UE) NL trao đổi (ME) NL nhiệt cơ thể (HE) NL thuần (NE) Theo hệ thống trên thì: GE = FE + UE + HE + NE Để xác định được giá trị năng lượng của thức ăn thì phải đo năng lượng bị chuyển hóa trong mỗi bước thuộc hệ thống chuyển hóa năng lượng nêu trên (Từ Quang Hiển và cs, 2013 [13. Tùy thuộc loại vật nuôi khác nhau, mà lượng nhiệt năng biến đổi sang dạng UE và HE sẽ khác nhau. Loại vật nuôi có UE và HE ít (ví dụ lợn) thì người ta sẽ sử dụng năng lượng tiêu hóa để đánh giá giá trị năng lượng của thức ăn. Loại vật nuôi có UE nhiều nhưng HE ít (ví dụ như gia cầm) thì người ta sẽ đánh giá giá trị năng lượng của thức ăn bằng năng lượng trao đổi.

Loại vật nuôi có UE và HE đều lớn (ví dụ gia súc nhai lại) thì người ta sẽ dùng năng lượng thuần để đánh giá giá trị năng lượng của thức ăn (dẫn theo Từ Quang Hiển, 2001 [10. 6 Đơn vị đo năng lượng của thức ăn vật nuôi là Calo, (Cal); kilocalo (kcal); Megacalo (Mcal) hoặc Jun (J); Kilojun (kj); Megajun (Mj). 1 kcal = 4,184 kj hay 1 kj = 0,239 kcal. * Phương pháp nghiên cứu Để xác định năng lượng tiêu hóa, người ta xác định tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của thức ăn, sau đó tính lượng các chất dinh dưỡng tiêu hóa được (tính bằng gam) của 1 kg thức ăn nguyên trạng hoặc 1 kg vật chất khô thức ăn và nhân với hệ số năng lượng của từng chất dinh dưỡng (dẫn theo Từ Quang Hiển, 2001 [10.

Để xác định năng lượng trao đổi và năng lượng thuần người ta dùng buồng thí nghiệm kín cách nhiệt (buồng trao đổi chất), buồng này có thể thu được phân, nước tiểu, khí tiêu hóa và đo được nhiệt năng của gia súc tỏa ra khi được ăn thức ăn. Để gia súc tiêu hóa, hấp thu bình thường, trước tiên cho gia súc ăn khẩu phần cơ sở (KPCS) có đầy đủ cân đối các chất dinh dưỡng như khẩu phần ăn hàng ngày, sau đó cho ăn khẩu phần thí nghiệm (KPTN) gồm 70 – 80% KPCS + 20 – 30% thức ăn thí nghiệm. Đo lượng nước tiểu, khí tiêu hóa và năng lượng tỏa ra khi cho động vật thí nghiệm ăn hai khẩu phần nêu trên. Chênh lệch số liệu giữa hai lần đo khi cho ăn KPCS và KPTN là thông số của thức ăn thí nghiệm.

Nước tiểu và khí tiêu hóa thu được nhân với hệ số để tính năng lượng nước tiểu và khí tiêu hóa. Năng lượng trao đổi sẽ bằng: NL tiêu hóa – (NL nước tiểu + NL khí tiêu hóa), còn năng lượng thuần sẽ bằng: N trao đổi – NL tăng nhiệt độ. Để xác định năng lượng tăng nhiệt độ, người ta còn dùng phương pháp gián tiếp thông qua lượng khí CO2, O2 và nitơ thải ra khi động vật thí nghiệm ăn thức ăn theo các công thức dưới đây (dẫn theo Từ Quang Hiển, 2001 [10. O2 (lít) Để xác định giá trị năng lượng thuần của thức ăn, người ta còn dùng các phương pháp khác nhau như: Phương pháp giết mổ so sánh: Thức ăn vào cơ thể được tích lũy chủ yếu dưới dạng lipid và protein, còn gluxit không đáng kể.

Người ta nuôi hai lô thí 7 nghiệm có cùng bố mẹ, lứa đẻ, môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng,. cho 1 lô thí nghiệm ăn KPCS và 1 lô thí nghiệm ăn KPTN (KPCS + thức ăn thí nghiệm) sau một thời gian giết mổ cả hai lô thí nghiệm, chênh lệch về lượng lipid và protein giữa 2 lô là của thức ăn thí nghiệm. Căn cứ vào lượng của hai chất này và hệ số năng lượng của nó để tính giá trị năng lượng thuần của thức ăn. Phương pháp cân bằng nitơ – cacbon: Người ta định lượng nitơ và cacbon trong thức ăn (A), sau khi cho động vật thí nghiệm ăn thức ăn (A) thì định lượng nitơ, cacbon của phân, nước tiểu, khí tiêu hóa (B).

Chênh lệch về lượng nitơ, cacbon giữa A và B là lượng nitơ, cacbon được tích lũy trong cơ thể, quy đổi lượng nitơ, cacbon này thành lipid, protein và nhân với hệ số năng lượng của chúng sẽ được giá trị năng lượng thuần sản phẩm của thức ăn. Trong thực tế, không thể xác định giá trị năng lượng tiêu hóa, trao đổi, thuần của tất cả các loại thức ăn dùng trong chăn nuôi bằng các phương pháp thí nghiệm nêu trên mà thông qua nghiên cứu, người ta xây dựng các công thức để ước tính giá trị năng lượng của thức ăn. Ví dụ, một số công thức ước tính giá trị năng lượng của thức ăn (Dẫn theo Từ Quang Hiển, 2001) [10.] như sau: NLTH (kcal/kg TĂ) 5,78. Ghi chú: NL, TH, TrĐ, P, L, G và TDN tương ứng là năng lượng, tiêu hóa, trao đổi, protein, lipid, gluxit và tổng các chất dinh dưỡng tiêu hóa được.

Như vậy, khi biết được hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thức ăn và tỷ lệ tiêu hóa của chúng thì có thể tính được năng lượng tiêu hóa, trao đổi, dựa vào các công thức có sẵn. Một số kết quả nghiên cứu về xác định giá trị năng lượng của thức ăn Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu xác định giá trị năng lượng của thức ăn cho vật nuôi để làm cơ sở cho việc phối hợp khẩu phần. Sau đây là một số nghiên cứu xác định giá trị năng lượng thức ăn cho gà. 8 Phạm Tấn Nhã và cs (2014) [31.] đã nghiên cứu ảnh hưởng của giống gà đến năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong thức ăn trên 3 giống gà (Lương Phượng, Cobb 500 và Sao).

Kết quả cho thấy: Giá trị năng lượng trao đổi chưa hiệu chỉnh nitơ của khẩu phần thí nghiệm với thành phần thức ăn là bột cá tra, cám gạo, bã bia, có sự khác nhau đối với giống gà khác nhau. Giống gà Lương Phượng là 3.055,89 kcal/kg VCK; giống gà Cobb 500 là 3.128,58 kcal/kg VCK; giống gà Sao là 3.225,74 kcal/kg VCK. Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong thức ăn khi thí nghiệm với giống gà Lương Phượng là 2.956,94 kcal/kg VCK; với giống gà Cobb 500 là 3.011,41 kcal/kg VCK; với giống gà Sao là 3.086,39 kcal/kg VCK. Hồ Lê Quỳnh Châu (2014) [3.] đã tiến hành xác định giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ (MEN) của một số loại thức ăn và ứng dụng trong thiết lập khẩu phần nuôi gà thịt.

Kết quả đã xác định giá trị năng lượng trong 5 loại thức ăn đó là ngô: 3.173 kcal/kg VCK; cám gạo: 2.689 kcal/kg VCK; bột sắn: 3.529 kcal/kg VCK; bột cá: 2.121 kcal/kg VCK; khô dầu đậu tương 2.105 kcal/kg VCK. Hồ Trung Thông và cs (2012) [41.] đã nghiên cứu giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong một số phụ phẩm khi sử dụng làm thức ăn nuôi gà cho biết: Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ của mẫu khô dầu dừa thí nghiệm là 1.635,28 kcal/kg VCK (6,84 MJ/kg VCK), của khô dầu lạc là 2.885,18 kcal/kg VCK (12,07 MJ/kg VCK), của bột đầu tôm là 1.982 kcal/kg VCK (8,29 MJ/kg VCK), tấm gạo là 4.036,3 kcal/kg VCK (16,89 MJ/kg VCK). Nguyễn Thị Mai (2001) [25.] cho biết: các loại thức ăn khác nhau thì giá trị ME cũng khác nhau. Giá trị ME tính theo 100% VCK của ngô biến động từ 3.892 kcal/kg; đỗ tương: 3.892 kcal/kg; khô đỗ tương: 2.111 kcal/kg và bột cá từ 2.

Theo Trần Thị Hoan (2012) [18.] thì năng lượng trao đổi của 1 kg VCK bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ của thức ăn được tích lũy trong cơ thể gà là 2.110,10 kcal và của 1 kg BLS nguyên trạng (88,51% VCK) đạt 1. Viện chăn nuôi (2001) [52.] ước tính năng lượng trao đổi của bột lá sắn có 89,60% VCK là 1.966 kcal/kg, tương ứng với 2.194 kcal/kg VCK. 9 Theo Nguyễn Ngọc Hà (1996) [9.], trung bình 1kg bột lá keo giậu trồng tại Việt Nam có 2.300 kcal năng lượng trao đổi đối với gia cầm. Tôn Thất Sơn và Nguyễn Thị Mai (2007) [39.] thực hiện thí nghiệm xác định năng lượng trao đổi của một số giống đỗ tương làm thức ăn cho gia cầm bằng phương pháp trực tiếp của Farrell (1978) [74.] kết quả cho thấy: Giống AK03 có 3.572 kcal/kg VCK; giống B10 có 3.716 kcal/kg VCK; giống DH4 có 3.554 kcal/kg VCK.

Như vậy, các loại thức ăn khác nhau sẽ có giá trị năng lượng trao đổi khác nhau, cùng một loại thức ăn nhưng giống gà khác nhau sẽ có năng lượng trao đổi khác nhau. Dựa vào giá trị năng lượng trao đổi của các loại thức ăn ta có thể phối hợp khẩu phần cho vật nuôi một cách khoa học và hiệu quả nhất từ đó nâng cao năng suất và chất lượng của vật nuôi. Ảnh hưởng của protein và năng lượng trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà thịt và gà đẻ Một trong các nội dung của đề tài này là nghiên cứu cách phối hợp bột lá vào khẩu phần của gà thịt và gà đẻ. Cách thứ nhất là phối hợp bột lá vào khẩu phần có sự cân đối lại năng lương và protein ngang bằng với khẩu phần của lô đối chứng (phối hợp theo tiêu chuẩn).

Cách thứ hai là thay thế một phần của khẩu phần đối chứng (khẩu phần cơ sở) bằng bột lá, không cân đối lại năng lượng và protein. Cách thứ hai sẽ nảy sinh các vấn đề sau: i) Năng lượng của khẩu phần sẽ thấp hơn khẩu phần đối chứng do năng lượng của bột lá thấp hơn năng lượng của khẩu phần đối chứng; ii) tỷ lệ protein sẽ cao hơn khẩu phần đối chứng (đối với trường hợp tỷ lệ protein trong bột lá cao hơn khẩu phần đối chứng) và sẽ thấp hơn khẩu phần đối chứng (đối với trường hợp tỷ lệ protein trong bột lá thấp hơn khẩu phần đối chứng). Vì có sự thay đổi trên nên tỷ lệ ME/P cũng thay đổi. Nội dung phần tổng quan dưới đây sẽ là cơ sở cho việc lý giải các kết quả nghiên cứu ở chương 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu sử dụng bột lá sắn keo giậu stylo trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố mẹ lương phượng tại miền núi phía Bắc là một tài liệu quan trọng trong lĩnh vực chăn nuôi, tập trung vào việc ứng dụng bột lá sắn keo giậu stylo làm thức ăn bổ sung cho gà thịt và gà đẻ bố mẹ. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá hiệu quả dinh dưỡng mà còn phân tích tác động đến sức khỏe và năng suất của đàn gà, đặc biệt trong điều kiện khí hậu và địa hình miền núi phía Bắc. Kết quả cho thấy bột lá sắn keo giậu stylo có tiềm năng lớn trong việc cải thiện chất lượng thịt và tăng tỷ lệ đẻ trứng, đồng thời giảm chi phí thức ăn chăn nuôi.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến dinh dưỡng và ứng dụng thực vật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ công nghệ thực phẩm nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện nảy mầm đến thành phần dinh dưỡng và kháng dinh dưỡng của hạt đậu xanh, Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học khảo sát ảnh hưởng của oligochitosan lên khả năng chịu hạn của cây mạ lúa, và Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm hình thái sinh lý hóa sinh theo tuổi phát triển của quả hồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về cách thức thực vật và các sản phẩm từ thực vật có thể được ứng dụng hiệu quả trong nông nghiệp và chăn nuôi.