` 1 MỞ ẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Cây lạc (Arachis hypogaea Linnaeus) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, đồng thời là cây cải tạo đất tốt. Chính vì vậy nhu cầu sản xuất lạc trên thế giới và Việt nam ngày càng tăng. Nghệ An là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung với 21,9 nghìn ha [15]. Hiện nay sản xuất lạc ở Nghệ An và nhiều vùng trồng lạc ở nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, rủi do làm ảnh hưởng đến năng xuất, phẩm chất lạc; trong đó vấn đề trở vấn đề trở ngại nhất là làm thế nào phát hiện sâu hại nói chung, bọ trĩ nói riêng, nẵm vững đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính, từ đó đề xuất biện phát phòng trừ sâu hại lạc một cách hợp lý.
Thực tế cho thấy sản xuất lạc vụ xuân ở Nghệ An và những vùng trồng lạc ở nước ta khi phòng chống bọ trĩ lạc người sản xuất mới sử dụng biện pjaps hóa học là chủ yếu song vẫn khó kiểm soát được sự phát sinh gây hại của bọ trĩ, đồng thời lại giết chết nhiều loại thiên địch của chúng, tăng tính quen và chống thuốc hóa học của bọ trĩ. Số lần phun thuốc đầu vụ có xu hướng tăng lên và làm tăng nguy cơ bùng phát các loài sâu hại khác. Điều này đi ngược lại với quan điểm IPM. Sau thời gian sử dụng thuốc bảo vệ thực vật liên tục, thiếu hiểu biết, con người đã làm cho nhiều loại thiên địch của sâu hại nói chung, bọ trĩ nói riêng bị chết, sâu hại được tự do phát sinh, phát triển mạnh tạo lên những vụ dịch nghiêm trọng, khó lường.
Điều này cho thấy con người đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sâu, nhện hại bùng phát gây thành dịch trong đó có bọ trĩ. Bọ trĩ gây hại trên nhiều loài cây trồng bao gồm hơn 50 loài cây trồng thuộc 20 họ khác nhau (Wang. Những cây trồng thường được thông báo là bị hại nặng như: lạc, ớt, khoai tây, thuốc lá, lạc, cây họ cà và cây họ đậu. Bọ trĩ là dịch hại chủ yếu trên lá của dưa hấu, lạc dưa chuột và ớt ở Hawaii.
Cho đến nay khoảng 5.000 loài bọ trĩ đã được mô tả. Theo Inoue et. Bên cạnh sự gây hại trực tiếp trên cây trồng, bọ trĩ còn tạo ra các vết thương làm tăng khả năng nhiễm bệnh của cây, đặc biệt chúng là môi giới truyền bệnh virut từ cây này sang cây khác. Ở Việt nam nghiên cứu về loài bọ trĩ hại cây trồng nói chung, cây lạc nói riêng còn rất hạn chế, cho đến nay mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng như: (Phạm Thị Vượng, 1998 [16]; (Hà Quang Hùng, 2000 [5]).
Yorn Try (2008) [17], Hà Quang Dũng (2008) [4] Hơn nữa những nghiên cứu này chỉ dừng ở điều tra cơ bản như xác định thành phần, bước đầu tìm hiểu về đặc điểm sinh học sinh thái của một số loài bọ trĩ chính gây hại đậu rau, bông, cây có múi. Xuất phát từ thực tiễn sản xuất lạc hiện nay, việc nghiên cứu thành phần, đặc tính sinh học, sinh thái của loài bọ trĩ chính, từ đó đề xuất biện pháp phòng chống bọ trĩ có hiệu quả theo hướng quản lý tổng hợp sâu hại lạc, đặc biệt ứng dụng biện pháp sinh học là rất cần thiết. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Frankliniella intonsa Trybom và biện pháp phòng trừ ở Nghệ An” 2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2.1 Mục đích của đề tài Trên cơ sở xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ trĩ chính hại lạc tại Nghệ An và vai trò ` 3 của loài thiên địch có ý nghĩa trong điều hòa số lượng bọ trĩ hại lạc, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ theo hướng quản lý tổng hợp (IPM) tại Nghệ An đạt hiệu quả kinh tế, thân thiên với môi trường.2 Yêu cầu của đề tài - Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thành phần thiên địch của chúng tại Nghệ An. - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom hại lạc tại Nghệ An.
- Điều tra diễn biến số lượng loài Frankliniella intonsa Trybom dưới ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái tại Nghệ An. - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài bọ xít nâu nhỏ bắt mồi Orius sauteri Poppius ăn thịt bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom tại Nghệ An. - Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom theo hướng quản lý tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế, thân thiện môi trường. 3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3.1 Ý nghĩa khoa học - Cung cấp dẫn liệu khoa học khá đầy đủ về thành phần bọ trĩ hại lạc.
Bổ sung 2 loài bọ trĩ vào thành phần loài sâu hại lạc ở Việt Nam. - Bổ sung dữ liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái học, phạm vi ký chủ của loài bọ trĩ F. intonsa hại lạc và các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến số lượng của chúng, làm cơ sở phát hiện kịp thời sự gây hại của bọ trĩ trên lạc và các loài thiên địch của chúng. - Là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ nghiên cứu ở Trường Đại học, Viện nghiên cứu, cho cán bộ kỹ thuật bảo vệ thực vật về bọ trĩ hại lạc.2 Ý nghĩa thực tiễn - Nhận biết được các loài bọ trĩ hại lạc, tình hình gây hại và phát sinh của loài bọ trĩ F.
intonsa trên cây lạc ở Nghệ An và vùng phụ cận. - Phát hiện kịp thời các loài thiên địch của bọ trĩ F. intonsa hại lạc và vai trò của loài có ý nghĩa trong điều hòa số lượng bọ trĩ. - Đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp phòng chống bọ trĩ F.
intonsa hại lạc ở Nghệ An và thực hiện mô hình phòng chống chúng đạt hiệu quả kinh tế, thân thiện với môi trường. 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu - Các loài bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng.2 Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng tại Nghệ An. - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ trĩ chính hại lạc và loài thiên địch có ý nghĩa. - Nghiên cứu biện pháp quản lý tổng hợp bọ trĩ F.
intonsa hại lạc ở Nghệ An. 5 Điểm mới của luận án - Xác định được 9 loài bọ trĩ hại cây lạc tại Nghệ An trong đó ghi nhận mới 2 loài bọ trĩ Megalurothrips sjostedi và Haplothrips gowdeyi - Cung cấp nhiều dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ trĩ Franklinella intonsa và bọ xít bắt mồi Orius sauteri - Bước đầu xây dựng và đề xuất quy trình quản lý tổng hợp (IPM) cho bọ trĩ hại trên cây lạc tại Nghệ An ` 5 ơ 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đề tài Ở Việt Nam trong những năm gần đây, Bọ trĩ (Thrips) đã trở thành sâu hại nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng, bởi lẽ tuy cơ thể nhỏ bé nhưng bọ trĩ có khả năng phát tán dũa hút dịch của lá, nụ hoa và quả non gây thành những dịch hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất cây trồng; gián tiếp là véc - tơ truyền bệnh virus, vi khuẩns cho cây. Để phòng chống chúng, người nông dân mới chỉ sử dụng biện pháp hóa học một cách liên tục thiếu hiểu biết đã dẫn đến hiện tượng bọ trĩ quen và kháng thuốc, đồng thời tiêu diệt hầu hết các loài thiên địch của bọ trĩ - một lực lượng sinh vật có ích quan trọng góp phần điều hòa số lượng quần thể bọ trĩ trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp, điều đó dẫn đến sự bùng phát số lượng của một số loài bọ trĩ chủ yếu. Hiện nay ở nước ta những nghiên cứu về loài bọ trĩ hại cây trồng nói chung, cây lạc nói riêng còn rất hạn chế, cho đến nay mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng như: (Phạm Thị Vượng, 1998 [16]; (Hà Quang Hùng, 2000 [5]); Yorn Try (2008) [17], Hà Quang Dũng (2008) [4] Hơn nữa những nghiên cứu này chỉ dừng ở điều tra cơ bản như xác định thành phần, bước đầu tìm hiểu về đặc điểm sinh học sinh thái của một số loài bọ trĩ chính gây hại đậu rau, bông, cây có múi.
đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề nêu trên để góp phần tăng sự hiểu biết về khả năng ứng dụng các biện pháp phòng chống đối tượng này phục vụ phát triển sản xuất các vùng trồng lạc ở Nghệ An nói riêng và nước ta nói chung.2 Những nghiên cứu về bọ trĩ ở nước ngoài 1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ Mound L.(1997) [65], chỉ rõ hầu hết các loài bọ trĩ gây hại trong bộ cánh tơ tập trung trong họ Thripidae với khoảng 1.700 loài, phân bố khắp thế giới. Các loài bọ trĩ là dịch hại trên cây trồng thuộc 2 giống Thrips và Liothrips là những giống lớn nhất trong bộ cánh tơ. Trong đó số loài của mỗi giống là: Thrips khoảng 275 loài, Liothrips khoảng 255 loài, Haplothrips khoảng 230 loài và Franklinella khoảng 175 loài.I Chang (1987) [32], đã tìm thấy 156 loài bọ trĩ ở Đài Loan trong đó có 70 loài gây hại trên cây trồng. Riêng trên cây rau (Wang C.
1989) [86] cho rằng có 27 loài bọ trĩ. (1975) [29], cho rằng có khoảng 600 loài bọ trĩ đã được tìm thấy ở Bắc Mỹ. (1985) [59] phát hiện ở Rumani có khoảng 203 loài, Pelikans J. (1985) [69] chỉ rõ ở Mongolia có 84 loài, tại Úc đã phát hiện được 422 loài thuộc bộ cánh tơ; trong đó có 8 loài mới phát hiện là Frankniella williamsi, Stenchaetothrips biformis, Thrips tabaci và Frankniella schultzei là những loài gây hại ở đầu vụ.
Wilson, (1988) [38] và Thrips tabaci và Frankniella schultzei là những loài phổ biến nhất, Wilson L. Tại Ấn Độ, nhiều công trình nghiên cứu chỉ rõ có tới 82 loài bọ trĩ chủ yếu gây hại trên 76 loại cây trồng khác nhau. Các nhà khoa học đã phát hiện bọ trĩ Thrips flavus có mặt và gây hại trên 70 loại cây trồng thuộc 26 họ thực vật khác nhau (dẫn theo Phạm Thị Vượng, 1998) [16]. Công trình nghiên cứu của Ananthakrishan T.