Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây Phát tài Cây phát tài (tên gọi khác như phát lộc, thần tài, phất dụ xanh) là một loài cây thân thảo, rễ chùm màu trắng, có sức sống cao, cho sinh khối lớn, trong lớp thực vật một lá mầm, thuộc bộ Asparagales (Măng tây), họ Dracaenaceae (Phất dụ/Huyết giác), chỉ Dracaena (Huyết giác), tên khoa học của loài là Dracaena sanderiana. Cây phát tài có nguồn gốc từ châu Phi, số ít phân bố ở Nam Á và Trung Mỹ, phân bố tự nhiên rất nhiều ở nước ta. Cây sinh sản bằng cách giâm cành, rất dễ trồng và chăm sóc, thích hợp với điều kiện bóng râm, ít ánh sáng nên thường được trồng làm cảnh.
Cây phát tài cũng có tiềm năng trong xử lý môi trường ô nhiễm kim 4 loại nặng, điển hình là khả năng sinh trưởng trong điều kiện nhiễm chì và tích lũy chì trong cơ thé (Hồ Bích Liên, 2018). Cây phát tài có những ưu điểm vượt trội trong xử lý kim loại nặng, có khả năng thích nghi nhanh với môi trường và cho sinh khối cao. Một số nghiên cứu đã cho thấy cây phát tài có khả năng tích lũy chì cũng như các kim loại nặng khác khi trồng trong môi trường bị ô nhiễm (Võ Văn Minh và ctv, 2012). Các nghiên cứu về cơ chế thích nghỉ của cây phát tai trong điều kiện nhiễm độc chì ở mức độ phân tử và biểu hiện của các gen liên quan như các gen đáp ứng stress oxy hoá dưới tác động của chi trên loài này đang dần được quan tâm.
Ô nhiễm chì và kim loại nặng 1. Thực trạng ô nhiễm chì Ô nhiễm kim loại nặng là một vấn đề sinh thái toàn cầu bởi chúng gây ảnh hưởng tới thực vật, động vật và sức khoẻ con người thông qua chuỗi thức ăn. Quá trình sản xuất nông nghiệp góp phan gia tăng một lượng đáng kế hàm lượng kim loại nặng trong nước. Các loại hóa chất bảo vệ thực vật, các loại phân bón, đặc biệt là phân lân có chứa các kim loại nặng như As, Pb, Hg; thuốc bảo vệ thực vật thường chứa nhiều kim loại nặng như: As, Pb, Hg.
Một số loại thuốc như CuSO¿, Zineb, Macozeb. chứa các kim loại nặng như Cu, Zn, Mn. Thông qua hoạt động phun thuốc, bón thuốc mà kim loại nặng có mặt trong đất và nước. Song song đó, sự phát triển công nghiệp đang vượt quá sự phát triển của cơ sở hạ tang.
Kim loại nặng và độc tô là các thành phần đặc trưng của các chat thai công nghiệp. Theo kết qua quan trắc và phân tích môi trường, hàm lượng đồng, chì, cadimi và coban. ở các vùng nước ven bién gần các thị tran và trung tâm công nghiệp lớn nhiều hon so với mức tự nhiên của chúng trong nước biển. Tình trang ô nhiễm kim loại nặng trong đất và các tang nước dưới đất đang ngày một nghiêm trọng.
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016, tại Thành phố Hồ Chí Minh, hàm lượng AI, Mn và Pb ở các tầng chứa nước tăng vượt mức cho phép, đặc biệt là đối với Pb khi mức nhiễm diễn tiến tăng nhanh trong những năm trở lại đây (2013-2016) do việc khai thác nước quá mạnh, làm phá cỡ cân bằng kết cấu (Nguyễn Việt Kỳ, 2018). Khai thác khoáng sản 5 hay thiên tai, lũ lụt cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm chì và các kim loại nói chung (Phạm Tích Xuân, 2015; Vũ Thị Oanh, 2018). Khí thải các nhà máy nhiệt điện, các lò hỏa táng, khí thải phương tiện giao thông chứa một lượng kim loại di vào môi trường không khí và sau đó là môi trường nước (Ziemacki và ctv, 1989). Hoạt động khai thác khoáng sản cũng góp phần rất lớn vào việc thải các kim loại nặng vào môi trường nước (Duruibe và ctv, 2007; Koch và ctv, 2000).
Anh hưởng của chì đối với môi trường và đời sống Chì là một kim loại có khả năng tích luỹ cao nên có khuynh hướng tích luỹ trong đất và trầm tích. Sự tích lũy các kim loại nặng hiện là nguyên nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm môi trường đất và nước (Beak, 2006). Theo Danh mục các chất nguy hại của ATSDR (Mỹ) thì chì đứng thứ 2 về mật độ, độc tính và khả năng phơi nhiễm cho con người, chúng tích tụ trong một số thực vật và động vật và có thể cản trở hoạt động trao đôi chất bình thường của con người khi được đưa vào qua chuỗi thức ăn (Forstner va Wittman, 2016). Ở Việt Nam, nhìn chung, đất bị ô nhiễm kim loại nặng mang tính cục bộ ở các vùng xung quanh các khu công nghiệp, nơi khai thác quặng và làng nghé tái chế kim loại.
Tại làng tái chế chì Chỉ Đạo (Văn Lâm, Hưng Yên), 100% SỐ người trực tiếp nấu chì bị nhiễm chì trong máu, 50% số người bị đau mắt, đường ruột, 43 người bị tàn tật. Chì có trong nước thải của các cơ sở sản xuất pin, acqui, luyện kim, hóa dau và từ khí thải giao thông. Tại lưu vực sông Pô Kô, tinh Kon Tum, Nguyễn Thị Oanh va ctv (2018) nghiên cứu các mẫu trầm tích và cho thấy, hiện diện của Zn, Cu và Pb trong trầm tích tăng dần từ quá khứ đến hiện tại, trầm tích sông Pô Kô có biểu hiện ô nhiễm kim loại nặng, với 4 lần ô nhiễm trầm tích sau 4 trận lũ tại khu vực. Như vậy, điều này cho thấy, sự cỗ môi trường có thé xảy ra ngay sau khi có lũ.
Khi có lũ, nước bề mặt với tốc độ dong chảy lớn sé vận chuyển các chất ô nhiễm phân tán đi các vùng khác, kéo theo các chất gây ô nhiễm từ nước bề mặt và trầm tích tại thượng nguồn xuống hạ nguồn đến các vùng dân cư đang sinh sống. Theo tiêu chuẩn Việt Nam QCVN 03: 2008/BTNMT đưa ra giới hạn tôi đa cho phép hàm lượng chì trong đất ở Việt Nam vào khoảng 200 - 300 ppm, tùy thuộc vào sản phẩm, điều kiện thực tế và mục đích sử dụng khác nhau. Là một thành phan không thiết yếu cho thực vật nhưng lại tích luỹ dé dàng trong hệ sinh thái, chì cản trở sự sinh trưởng của cây bởi các tác động tới quá trình sinh lí và các quá trình trao đối chất như quang hợp va sinh dưỡng (Li và ctv, 2012). Việc tích lũy hàm lượng lớn chì trong tế bào có những ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình quang hợp và cấu trúc, chức năng của lục lạp.
Thực vật sống trong môi trường có chứa chi trong thời gian dài đã giảm lượng grana, chất nền trong ty thé, làm thay đổi thành phan lớp kép phosphplipid trên mang tế bào (Sharma và ctv, 2005). Việc tiếp xúc với chì kế cả ở nồng độ rất nhỏ cũng có thê gây ức chế khả năng nảy mầm của hạt ở nhiều loài như Hordeum vulgare, Elsholtzia argyi, Spartina alterniflora, Pinus halepensi, Oryza sativa va Zea mays. Ở nồng độ chì cao, sự nảy mam của hat có thé bi ngừng lai hoàn toàn, thay đổi cấu trúc của rễ, trụ hạ diép, lá va làm giảm kích thước của xylem, pholoem (Islam, 2018; Elzbieta, 2005; Wozny, 1991). Mặt khác, chì có những ảnh hưởng nguy hại với thực vật như gây độc tế bào, thay đổi tính thấm của màng tế bào, xáo trộn phản ứng giữa gốc sunphydryl với các cation.
Trạng thái ion hóa của chì cũng có thê kết hợp với các gốc phosphate và các gốc hoạt động của ADP va ATP (Cimrin và ctv, 2007). Ô nhiễm chì có thé gây ton hại cho hệ thần kinh, đặc biệt là ở trẻ em và có thé gây ra các chứng rối loạn não và máu. Tiếp xúc lâu ngày với chì hoặc các muối của nó hoặc các chất oxy hóa mạnh (như PbO¿) có thé gây bệnh thận và các cơn đau bat thường giống như đau bụng. Đối với phụ nữ mang thai, khi tiếp xúc với chì ở mức cao có thé bị sây thai (Nordberg và ctv, 2007; Abadin và ctv, 2007).
Theo Đặng Đình Kim (2010), chì có độc tính cao và rất nguy hiểm đối với cơ thể con người. Chì có khả năng tích lũy trong cơ thể, gây độc thần kinh, gây chết nếu bị nhiễm độc nặng. Hiệu ứng hoá sinh quan trọng của chì là can thiệp vào việc tổng hợp hemoglobin dẫn đến các bệnh về máu; ngăn cản việc sản xuất năng lượng; đổi chỗ cho canxi nằm lại trong cơ thể, ngừng sự phát triển của xương, từ đó gây độc các mô mêm. Nông độ chì cao gây phù não, phá huỷ tê bào, gây co giật, hôn mê 7 và tử vong hay gây di chứng thần kinh không phục hồi.
Tác hại thường kéo dài do thời gian bán huỷ dé thải chi ra khỏi co thể là 7 - 32 năm. Khả năng tích luy của Pb phụ thuộc vào loài sinh vật, cấu tạo các cơ quan và nồng độ Pb ô nhiễm. Khả năng đào thải Pb tuỳ thuộc vào cơ quan và thời gian đào thải. Khả năng đào thải nhanh nhất thuộc các mô mềm như ruột và thịt, khả năng đào thải chậm nhất thuộc về các mô cứng như vảy và xương.
Xử lý ô nhiễm kim loại bằng thực vật 1. Công nghệ xử lý môi trường bằng thực vật Công nghệ xử lý môi trường bang thực vật (phytoremediation) là một hướng đi mới. Công nghệ này sử dụng các hệ thống thực vật có khả năng hấp thu hay chuyền hóa các chất độc trong môi trường đất, nước hay không khí nhằm làm sạch môi trường. Việc sử dụng thực vật dé loại bỏ kim loại nặng đã được xem xét rộng rãi (Outridge va Noller, 1991; Dhir, 2013; Forstner va Wittman, 2016); được nghiên cứu rộng rãi cả trong phòng thí nghiệm (Sinha và ctv, 2012; Rane và ctv, 2015) và ngoài thực địa (Lokeshwari và Chandrappa, 2007; Nunez va ctv, 2011).
Kha năng ứng dụng của kỹ thuật nay rat cao, trong những điều kiện cu thé và được sử dụng trong hệ thống quản lý thích hợp. Việc áp dụng công nghệ này đòi hỏi sự phát triển của kỹ thuật di truyền và sinh học phân tử (Võ Văn Minh và Võ Châu Tuấn, 2005). Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm cách loại bỏ chì trong môi trường bằng các biện pháp vật lý, hóa học hay sinh học tuy nhiên những biện pháp truyền thống đều tốn chi phí rất cao cho quá trình xử lý đồng thời ảnh hưởng nhiều đến hàm lượng dinh dưỡng, vi sinh vat và kết cau của đất (Holden và ctv, 1989). Phương pháp sử dụng thực vật dé xử lý kim loại nặng được quan tâm đặc biệt bởi chi phí đầu tư thấp, an toàn và thân thiện với môi trường.
Khả năng làm sạch môi trường của thực vật đã được biết từ thế ky XVIII.