Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung. Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Chăn nuôi lợn cung cấp một khối lượng lớn thực phẩm có giá trị cho con người. Chăn nuôi lợn phát triển không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm cho xã hội mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt, tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Phân lợn là loại phân có dinh dưỡng cao đối với cây trồng (5 - 25 % chất khô; 1,6 - 1,8 % nitơ; 0,6 - 2,1 % photpho và 1,7 - 3,6 % kali). Hiện nay, phân lợn còn được dùng làm nguyên liệu để sản xuất khí đốt (biogas) vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa có tác dụng chống ô nhiễm môi trường, đặc biệt là khu vực đông dân cư. Xác định vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi lợn trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy chăn nuôi lợn phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, trên thực tế dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, gây nên những thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi.
Vì vậy, để phát triển ngành chăn nuôi thì bên cạnh việc thực hiện tốt công tác giống, thức ăn,…còn phải quan tâm đến công tác thú y, đặc biệt với xu hướng chăn nuôi tập chung, quy mô trang trại như hiện nay. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa có một mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi. Đây chính là vấn đề khó khăn lớn cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng trong công tác phòng trừ và điều trị bệnh ký sinh trùng. Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn.
Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mãn tính, làm lợn sinh trưởng và phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn tăng và 2 các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng cũng tăng. Ngoài ra, ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, virus xâm nhập gây bệnh (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [29]. Huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có số đông dân số làm nông nghiệp, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu vật nuôi. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn T.
suis gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi lợn, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus suis gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh T. suis cho lợn.
- Bước đầu đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh và quy trình phòng chống bệnh giun T.
suis cho lợn, có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi cách nhận biết được lợn mắc bệnh giun T. suis, để từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun T. suis cho lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học của giun T. Vị trí của giun T.
suis trong hệ thống phân loại động vật học Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [35], Skrjabin K. (1979) [37], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21], vị trí của giun T. suis Trichocephalus suis (T. suis) trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933 Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928 Họ Trichocephalidae Baird, 1953 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 2.
Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T. suis lợn Theo Skrjabin K. (1979) [37], thì hình thái cấu tạo của giun tròn T. suis như sau: Con đực: Dài trung bình 40,35 mm; tối thiểu 33 mm; tối đa 48 mm.
Chiều dài phần trước trung bình 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm). Tỷ lệ chiều dài phần trước với phần sau 1,68 : 1. Thân phủ lớp cutin, trên lớp cutin có nhiều rãnh ngang nên lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ. Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân.
Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,044 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm. Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc xích. Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi. Hệ thống sinh dục gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân.
Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Giao gai hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn. Gai có chiều dài nằm trong khoảng từ 1,74 - 2,84 mm. Chỗ rộng nhất của gai gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm.
Có bao gai bọc xung quanh và cùng với gai nhô ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ. Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi 4 chuyển của bao vào thân 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 46. Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm.
Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước: Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân. Chiều dài của chỗ gập 0,242 - 0,330 mm; rộng 0,290 - 0,352 mm. Con cái: Thân dài trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm.
Phần trước mỏng, phần sau dày. Chiều dài phần trước của thân trung bình 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau 15 mm (13 - 18 mm). Trên danh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ. Âm hộ nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm).
Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm). Tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, nằm ngay trước âm hộ, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng. Đuôi con cái tù. Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm.
Màu sắc thay đổi từ vàng nhạt đến vàng sẫm. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] đã mô tả giun T. suis như sau: Con đực: Dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo.
Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn. Bao gai phủ đầy gai nhỏ. Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi. Con cái: Cơ thể dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm.
Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng. Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19]: Giun T.
suis có màu trắng đục. Thân chia ra làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, trông giống như sợi T. suis; phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực đuôi hơi tù, cuộn tròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 - 2 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài phần cuối của giun.
Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở đoạn cuối của thân. Giun Trichocephalus suis a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực (Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005)[20] Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [17] cho biết: Hình thể của giun T. suis giống như một sợi T. suis màu trắng.
Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt. Phần trước nhỏ như sợi T. suis, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể. Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản.
Giun đực dài 20 - 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản. Vòng đời của giun T. suis lợn Skrjabin K.
(1979) [37] cho biết: Giun T. suis phát triển không cần vật chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại cảnh. Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm nhiễm từ 3 đến 4 tuần.
Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng. Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [31], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] thì tuổi thọ của giun T. suis ở lợn là từ 4 - 5 tháng. 6 Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [8], giun T.
suis sống được trong cơ thể lợn 114 ngày. và cs (2000) [36] cho biết: Khi lợn nuốt phải những ấu trùng giun T. suis này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành.