Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bối cảnh thực tiễn và tính cấp thiết

Chăn nuôi lợn giữ vai trò then chốt trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, cung cấp nguồn thực phẩm đạm động vật lớn cho xã hội, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tạo ra nguồn phân bón hữu cơ có giá trị dinh dưỡng cao cho cây trồng (chứa 5 - 25% chất khô; 1,6 - 1,8% nitơ; 0,6 - 2,1% photpho và 1,7 - 3,6% kali), đồng thời là nguyên liệu vận hành các công trình khí sinh học (biogas). Tuy nhiên, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, với mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 tại miền Bắc Việt Nam, tạo môi trường thuận lợi cho các loài ký sinh trùng đường tiêu hóa phát triển và gây bệnh trên đàn lợn.

Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa nói chung và bệnh do giun tròn Trichocephalus suis (T. suis) nói riêng tuy không gây thành các ổ dịch ồ ạt như các bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn, nhưng thường diễn biến ở thể mãn tính. Ký sinh trùng làm lợn còi cọc, chậm lớn, tăng tiêu tốn thức ăn, tăng chi phí thuốc điều trị và công chăm sóc, đồng thời làm giảm sức đề kháng, mở đường cho các tác nhân vi khuẩn, virus kế phát xâm nhập. Tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên – một địa bàn có mật độ chăn nuôi lợn đáng kể – trước thời điểm năm 2014 chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về biện pháp phòng trị bệnh do loài giun này gây ra. Do đó, đề tài được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu khống chế dịch bệnh và nâng cao năng suất chăn nuôi tại địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài xác định 2 mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus suis gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Bước đầu đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho đàn lợn nuôi tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn ở các lứa tuổi nuôi tại nông hộ và trang trại; mẫu phân tươi của lợn; trứng và giun trưởng thành Trichocephalus suis.
  • Vật liệu và hóa dược: Hóa chất dung dịch muối NaCl bão hòa, MgSO4; kính hiển vi quang học, buồng đếm McMaster; thuốc tẩy giun Hanmectin-25, Ziquan-mectin; thuốc sát trùng Benkocid, Povidine 10%; nguyên liệu ủ phân (phân chuồng, lá xanh băm nhỏ, tro bếp, vôi bột, phế thải thực vật).
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 4 xã thuộc huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (Thành Công, Tân Phú, Tân Hương, Tiên Phong) và phân tích mẫu tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 09/12/2013 đến ngày 31/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và vị trí phân loại học

Khóa luận xây dựng trên nền tảng giun sán học thú y và dịch tễ học thú y. Căn cứ hệ thống phân loại của Skrjabin K. (1979) và Nguyễn Thị Lê cùng cộng sự (1996), vị trí phân loại của loài giun nghiên cứu được xác định:

  • Lớp: Nematoda (Rudolphi, 1808)
  • Phân lớp: Enoplia (Chitwood, 1933)
  • Bộ: Trichocephalida (Skrjabin et Schulz, 1928)
  • Phân bộ: Trichocephalata (Skrjabin et Schulz, 1928)
  • Họ: Trichocephalidae (Baird, 1953)
  • Phân họ: Trichocephalinae (Ransom, 1911)
  • Giống: Trichocephalus (Schrank, 1788)
  • Loài: Trichocephalus suis (Schrank, 1788)

Đặc tính sinh học chỉ ra rằng T. suis có vòng đời trực tiếp không qua vật chủ trung gian. Vị trí ký sinh chủ yếu tại manh tràng và kết tràng của lợn. Trứng theo phân ra môi trường ngoài, ở điều kiện nhiệt độ 18 - 30°C và ẩm độ 80 - 85% sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày. Khi lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm, ấu trùng chui ra và hoàn thành vòng đời trong cơ thể vật chủ sau khoảng 30 ngày. Về mặt bệnh học, phần đầu mảnh của giun cắm sâu vào niêm mạc ruột già hút dịch tổ chức và máu, gây xuất huyết, viêm ruột, hoại tử niêm mạc, làm lợn tiêu chảy ra phân lẫn chất nhầy và máu.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả đã kết hợp các phương pháp điều tra dịch tễ học, thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và thử nghiệm lâm sàng trên thực địa:

  1. Phương pháp xét nghiệm mẫu phân:

    • Định tính: Áp dụng phương pháp xét nghiệm phân trực tiếp, phương pháp phù nổi Fulleborn (sử dụng dung dịch NaCl bão hòa tỷ trọng cao để làm nổi trứng) và phương pháp Darling/Cherborvich (ly tâm kết hợp dung dịch NaCl bão hòa hoặc MgSO4 bão hòa) để phát hiện sự hiện diện của trứng giun.
    • Định lượng: Sử dụng buồng đếm McMaster để xác định cường độ nhiễm qua chỉ số số trứng trên một gam phân (trứng/g phân).
  2. Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy:

    • Xác định khối lượng lợn thí nghiệm qua phương pháp cân trực tiếp (lợn nhỏ) hoặc đo kích thước tính theo công thức: $P_{\text{kg}} = 87{,}5 \times VN^2 \times DT$ (với $VN$ là vòng ngực tính bằng mét, $DT$ là dài thân tính bằng mét).
    • Thí nghiệm trong phòng/diện hẹp trên 10 lợn (chia 2 lô dùng Hanmectin-25 và Ziquan-mectin liều 1 ml/10 kg thể trọng hoặc 1 g/10 kg thể trọng), kiểm tra phân tại ngày thứ 5, 10, 15 sau tẩy và mổ khám kiểm tra giun ở ruột già sau 15 ngày.
    • Thí nghiệm thực địa trên 84 lợn nhiễm giun để tính tỷ lệ sạch trứng và tỷ lệ giảm cường độ trứng sau 15 ngày; theo dõi phản ứng lâm sàng của lợn sau khi dùng thuốc 1 giờ.
  3. Phương pháp thực nghiệm tác dụng diệt trứng bằng thuốc sát trùng:

    • Bố trí 20 đĩa petri (đường kính 18 cm) chứa lớp phân nhiễm giun dày 1,2 cm: Lô 1 phun Benkocid (25 ml/10 lít nước, 5 đĩa); Lô 2 phun Povidine 10% (1 lít/250 lít nước, 5 đĩa); Lô đối chứng phun nước muối sinh lý 0,9% (10 đĩa).
    • Theo dõi sự biến đổi và tỷ lệ sống/chết của trứng giun hàng ngày trong 30 ngày bằng phương pháp Fulleborn.
  4. Phương pháp thực nghiệm ủ phân nhiệt sinh học diệt trứng giun:

    • Thiết kế 4 công thức ủ phân:
      • Công thức I: 200 kg phân chuồng + 40 kg lá xanh băm nhỏ + 12 kg tro bếp.
      • Công thức II: 200 kg phân chuồng + 40 kg lá xanh băm nhỏ + 10 kg vôi bột.
      • Công thức III: 200 kg phân chuồng + 40 kg lá xanh + 12 kg tro bếp + 10 kg vôi bột.
      • Công thức IV (Compost): 500 kg phân chuồng + 500 kg phế thải cây xanh (rơm rạ, thân ngô, lạc băm ngắn 1 gang tay), xếp lớp so le trên diện tích nền 3 m²/tấn phân, duy trì độ ẩm 40 - 50%, phủ bạt kín.
    • Đặt các túi vải chứa mẫu phân nhiễm giun nặng vào nhiều vị trí trong đống ủ; theo dõi nhiệt độ hàng ngày bằng nhiệt kế 100°C và lấy mẫu kiểm tra sức sống của trứng giun theo định kỳ 5 ngày/lần.
  5. Phương pháp thử nghiệm quy trình phòng trị tổng hợp trên diện hẹp:

    • Bố trí 16 lợn 3 tháng tuổi tại xã Tân Hương chia làm 2 lô: Lô thử nghiệm (8 con) áp dụng tiêm Ziquan-mectin, vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống và ủ phân theo công thức IV; Lô đối chứng (8 con) nuôi theo tập quán cũ.
    • Theo dõi tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm sau 2 tháng và 3 tháng thử nghiệm.

Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu

Dữ liệu thu thập từ 550 mẫu phân lợn khảo sát dịch tễ tại 4 xã, cùng toàn bộ số liệu thực nghiệm nhiệt độ ủ phân, số lượng trứng giun đếm được qua kính hiển vi và khối lượng gia súc. Số liệu được tổng hợp và xử lý thống kê sinh vật học theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2008) bằng phần mềm Microsoft Excel 2007, tính toán các tham số trung bình ($\bar{X}$), sai số chuẩn ($m_x$) và tỷ lệ phần trăm (%).


Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của ngành chăn nuôi lợn, tác hại tiềm ẩn của các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa đối với sinh trưởng của lợn, khoảng trống nghiên cứu về giun tròn Trichocephalus suis tại huyện Phổ Yên, đồng thời xác lập mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về:

  • Đặc điểm phân loại học, hình thái học con đực (dài 33 - 48 mm, có 1 gai giao hợp dài 1,74 - 2,84 mm nằm trong bao gai có gai nhỏ) và con cái (dài 38 - 53 mm, âm hộ nằm ở ranh giới giữa phần thân mỏng và dày).
  • Vòng đời sinh học của T. suis, cơ chế cắm sâu đầu vào niêm mạc manh tràng gây tổn thương cơ giới, tiết độc tố và mở đường cho mầm bệnh kế phát (Treponema, vi khuẩn đường ruột).
  • Bệnh học, triệu chứng lâm sàng (tiêu chảy phân lẫn máu, cong lưng mót rặn, kiệt sức), bệnh tích đại thể và vi thể ở manh tràng, kết tràng.
  • Các phương pháp chẩn đoán xét nghiệm phân và tổng hợp các biện pháp sử dụng thuốc hóa dược (Levamisole, Fenbendazole, Ivermectin, Mebendazole) cùng phương pháp ủ phân nhiệt sinh học.

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu phân, đàn lợn thí nghiệm tại các hộ chăn nuôi huyện Phổ Yên; mô tả quy chuẩn pha chế hóa chất xét nghiệm phân; quy trình bố trí thí nghiệm kiểm tra hiệu lực thuốc tẩy trên lợn; phương pháp bố trí đĩa petri kiểm tra thuốc sát trùng; quy trình kỹ thuật phối trộn 4 công thức ủ phân và phương pháp thử nghiệm phòng trị trên đàn lợn thực địa.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương tập trung phân tích 5 nội dung thực nghiệm chính:

  • Tình hình nhiễm giun T. suis tại 4 xã thuộc huyện Phổ Yên.
  • Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy Ziquan-mectin và Hanmectin-25 trong phòng thí nghiệm và ngoài thực địa.
  • Tác dụng của 2 loại thuốc sát trùng Benkocid và Povidine 10% đối với trứng giun trong phân.
  • Động thái sinh nhiệt và khả năng tiêu diệt trứng giun của 4 công thức ủ phân nhiệt sinh học.
  • Đánh giá hiệu quả làm sạch ký sinh trùng của quy trình can thiệp tổng hợp trên lô lợn thử nghiệm so với lô đối chứng qua các mốc thời gian 2 tháng và 3 tháng.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng kết về tỷ lệ nhiễm dịch tễ, lựa chọn loại thuốc tẩy tối ưu, công thức ủ phân đạt hiệu quả cao nhất và phác thảo quy trình phòng trị bệnh có tính khả thi cho nông hộ; đồng thời nêu đề nghị mở rộng ứng dụng quy trình tại các địa phương chăn nuôi lợn.


Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cụ thể

1. Tình hình nhiễm giun T. suis tại địa bàn điều tra

Kết quả xét nghiệm 550 mẫu phân lợn tại 4 xã thuộc huyện Phổ Yên cho thấy tỷ lệ nhiễm giun T. suis chung là 27,82% (153/550 con). Tỷ lệ nhiễm có sự khác biệt giữa các xã:

Địa phương (Xã) Số lợn điều tra (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm $\le$ 500 trứng/g (%) Cường độ nhiễm > 500 - 1000 trứng/g (%) Cường độ nhiễm > 1000 trứng/g (%)
Thành Công 172 23 13,37 69,57 (16 con) 21,74 (5 con) 8,69 (2 con)
Tân Phú 90 19 21,11 73,68 (14 con) 26,32 (5 con) 0,00 (0 con)
Tân Hương 130 48 36,92 58,33 (28 con) 29,12 (14 con) 12,50 (6 con)
Tiên Phong 158 63 39,87 49,21 (31 con) 36,51 (23 con) 14,28 (9 con)
Tính chung 550 153 27,82 58,17 (89 con) 30,72 (47 con) 11,11 (17 con)

Về cơ cấu cường độ nhiễm: Nhiễm nhẹ ($\le$ 500 trứng/g phân) chiếm ưu thế với 58,17%; nhiễm trung bình chiếm 30,72% và nhiễm nặng chiếm 11,11%.

2. Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun

  • Thử nghiệm trên lợn thí nghiệm (10 con): Cả 2 loại thuốc Hanmectin-25 (liều 1 g/10 kg thể trọng) và Ziquan-mectin (liều 1 ml/10 kg thể trọng) đều cho hiệu lực sạch trứng 100% tại các ngày thứ 5, 10 và 15 sau tẩy. Mổ khám sau 15 ngày không tìm thấy giun trưởng thành trong ruột già.
  • Thử nghiệm mở rộng trên thực địa (84 con):
    • Thuốc Ziquan-mectin (44 con, cường độ ban đầu $511{,}36 \pm 19{,}19$ trứng/g): Sau 15 ngày, 100% lợn sạch trứng giun (hiệu lực tẩy sạch đạt 100%).
    • Thuốc Hanmectin-25 (40 con, cường độ ban đầu $503{,}25 \pm 28{,}75$ trứng/g): Sau 15 ngày, có 39/40 con sạch trứng (hiệu lực tẩy sạch đạt 97,5%), 1 con còn lại giảm cường độ mạnh xuống còn $9{,}33 \pm 1{,}78$ trứng/g.
  • Độ an toàn: 100% lợn ở cả 2 nhóm thuốc không có biểu hiện ngộ độc, nôn mửa, co giật; lợn ăn uống và vận động bình thường, trạng thái phân chuyển biến tốt từ sệt sang khuôn bình thường.

3. Tác dụng của thuốc sát trùng đối với trứng giun trong phòng thí nghiệm

Thực nghiệm trong 30 ngày cho thấy cả Benkocid (liều 25 ml/10 lít nước) và Povidine 10% (liều 1 lít/250 lít nước) khi phun trực tiếp lên bề mặt phân đều có tỷ lệ diệt trứng giun T. suis bằng 0%. Số lượng trứng quan sát được qua các ngày duy trì hình thái bình thường do cấu tạo vỏ trứng giun T. suis rất dày, các chất sát trùng thông thường không thấm qua được vỏ để diệt mầm bệnh.

4. Đánh giá khả năng sinh nhiệt và diệt trứng của các công thức ủ phân

Chỉ tiêu theo dõi Công thức I Công thức II Công thức III Công thức IV (Compost)
Thành phần chính Phân + Lá xanh + Tro bếp Phân + Lá xanh + Vôi bột Phân + Lá xanh + Tro + Vôi Phân chuồng + Phế thải cây xanh
Thời gian đạt nhiệt độ cao nhất Ngày thứ 30 Ngày thứ 35 Ngày thứ 30 Ngày thứ 5
Nhiệt độ cao nhất đạt được (°C) $53{,}17 \pm 0{,}54$ $58{,}17 \pm 0{,}74$ $58{,}83 \pm 0{,}74$ $66{,}00 \pm 6{,}48$ (đỉnh hố đạt 75°C)
Tỷ lệ trứng chết ở đỉnh nhiệt (%) 54,00 100 100 12,36 (do nhiệt tăng quá nhanh)
Thời điểm trứng chết 100% Ngày thứ 40 Ngày thứ 35 Ngày thứ 30 Ngày thứ 20

Công thức IV (ủ phân compost từ phân chuồng và phế thải thực vật) có khả năng sinh nhiệt nhanh nhất, duy trì nhiệt độ cao nhất và diệt sạch hoàn toàn trứng giun T. suis chỉ sau 20 ngày ủ.

5. Kết quả thử nghiệm quy trình phòng trị tổng hợp

Thử nghiệm trên 16 lợn (8 con lô thử nghiệm áp dụng tiêm Ziquan-mectin + vệ sinh + ủ phân công thức IV; 8 con lô đối chứng):

  • Lô thử nghiệm: Từ tỷ lệ nhiễm 100% ban đầu, sau 2 tháng và 3 tháng theo dõi, tỷ lệ nhiễm giun T. suis giảm về 0% (100% lợn sạch giun).
  • Lô đối chứng: Duy trì tỷ lệ nhiễm 100% ở cả mốc 2 tháng và 3 tháng, cơ cấu nhiễm dịch chuyển chủ yếu sang cường độ trung bình (62,50%) và nhẹ (50,00%).

Giải pháp và khuyến nghị tác giả đề xuất

  1. Quy trình tẩy giun định kỳ: Sử dụng thuốc Ziquan-mectin (tiêm dưới da liều 1 ml/10 kg thể trọng) hoặc Hanmectin-25 để tẩy giun định kỳ cho lợn, đặc biệt là giai đoạn lợn con sau cai sữa và lợn từ 2 - 4 tháng tuổi.
  2. Quy trình xử lý chất thải: Toàn bộ phân và chất độn chuồng phải được thu gom và ủ theo phương pháp compost (Công thức IV: phối trộn 50% phân chuồng với 50% phế thải cây xanh băm nhỏ). Thời gian ủ phải duy trì tối thiểu từ 30 ngày trở lên trước khi đưa ra sử dụng làm phân bón để đảm bảo tiêu diệt triệt để mầm bệnh ký sinh trùng.
  3. Vệ sinh thú y: Kết hợp giữ vệ sinh chuồng trại, nguồn thức ăn, nước uống, không nuôi nhốt chung các lứa tuổi lợn trong cùng ô chuồng.

Đóng góp mới của đề tài

  • Cung cấp dẫn liệu khoa học đầu tiên có tính hệ thống về tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Trichocephalus suis tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Chứng minh trên thực nghiệm rằng các hóa chất sát trùng chuồng trại thông thường (Benkocid, Povidine 10%) không có khả năng diệt trứng giun T. suis trong lớp phân, từ đó khẳng định ủ phân nhiệt sinh học compost là giải pháp kỹ thuật cốt lõi để cắt đứt nguồn lây nhiễm từ môi trường ngoại cảnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Do thời gian thực tập tốt nghiệp có hạn (5 tháng, từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014), việc theo dõi công thức ủ phân IV mới chỉ tiến hành đến ngày thứ 40. Quy trình phòng trị tổng hợp mới được thử nghiệm trên quy mô diện hẹp (16 lợn tại 2 hộ chăn nuôi của xã Tân Hương).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần tiếp tục theo dõi diễn biến nhiệt độ và độ hoai mục của đống ủ phân compost qua các khoảng thời gian dài hơn; mở rộng thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh trên quy mô trang trại tập trung và trên nhiều lứa tuổi lợn khác nhau tại các vùng sinh thái khác của tỉnh Thái Nguyên.

Giá trị tham khảo và ứng dụng thực tiễn

Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y, Bác sĩ Thú y: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm đối chứng lâm sàng, phương pháp xét nghiệm ký sinh trùng (Fulleborn, McMaster) và cách thiết kế các mô hình thực nghiệm ủ phân nhiệt sinh học.
  • Cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi lợn: Áp dụng trực tiếp phác đồ điều trị bằng Ziquan-mectin/Hanmectin-25 và kỹ thuật ủ phân compost bằng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp sẵn có để xử lý triệt để mầm bệnh, hạ giá thành chăn nuôi và bảo vệ môi trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm giun Trichocephalus suis ở lợn tại huyện Phổ Yên là bao nhiêu và xã nào có tỷ lệ nhiễm cao nhất?

Tỷ lệ nhiễm giun T. suis trung bình tại 4 xã được điều tra là 27,82% (153/550 lợn kiểm tra). Trong đó, xã Tiên Phong có tỷ lệ nhiễm cao nhất (39,87%), tiếp theo là xã Tân Hương (36,92%), xã Tân Phú (21,11%) và thấp nhất là xã Thành Công (13,37%).

2. Hai loại thuốc tẩy giun Hanmectin-25 và Ziquan-mectin đạt hiệu lực điều trị như thế nào trên thực địa?

Trên thực địa, thuốc Ziquan-mectin (liều 1 ml/10 kg thể trọng) đạt hiệu lực tẩy sạch 100% trên 44 lợn thử nghiệm. Thuốc Hanmectin-25 (liều 1 g/10 kg thể trọng) đạt hiệu lực tẩy sạch 97,5% trên 40 lợn thử nghiệm (39/40 lợn sạch hoàn toàn trứng giun, 1 lợn giảm số lượng trứng xuống còn 9,33 trứng/g phân). Cả hai thuốc đều an toàn 100%, không gây phản ứng phụ.

3. Vì sao các dung dịch sát trùng Benkocid và Povidine 10% không diệt được trứng giun T. suis trong thực nghiệm?

Trong thực nghiệm theo dõi 30 ngày, tỷ lệ diệt trứng của cả hai loại thuốc sát trùng đều là 0%. Nguyên nhân do trứng giun Trichocephalus suis có cấu tạo lớp vỏ rất dày và bền vững, các loại thuốc sát trùng bề mặt thông thường ở nồng độ sử dụng định kỳ không thể thẩm thấu qua vỏ trứng để tiêu diệt ấu trùng/phôi bên trong.

4. Trong 4 công thức ủ phân, công thức nào sinh nhiệt tốt nhất và tiêu diệt hoàn toàn trứng giun nhanh nhất?

Công thức IV (gồm 500 kg phân chuồng trộn với 500 kg phế thải cây xanh như rơm rạ, thân cây ngô, thân cây lạc băm nhỏ) là công thức tối ưu nhất. Nhiệt độ đống ủ tăng nhanh đạt đỉnh 75°C sau 2 ngày (trung bình 66°C ở ngày thứ 5) và tiêu diệt hoàn toàn 100% trứng giun T. suis chỉ sau 20 ngày ủ.

5. Tác giả khuyến cáo thời gian ủ phân tối thiểu là bao lâu trước khi đem bón cho cây trồng?

Tác giả khuyến cáo người chăn nuôi sau khi ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học (đặc biệt là công thức compost) phải duy trì thời gian ủ tối thiểu từ 30 ngày trở lên mới được đem phân ra sử dụng để bón cho cây trồng nhằm đảm bảo toàn bộ trứng giun sán đã bị tiêu diệt hoàn toàn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Trường Giang đã khảo sát và xác định rõ thực trạng nhiễm giun tròn Trichocephalus suis trên đàn lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm chung là 27,82%. Nghiên cứu đã chứng minh hiệu lực điều trị cao của hai chế phẩm Ziquan-mectin và Hanmectin-25, đồng thời chỉ ra hạn chế của các thuốc sát trùng thông thường trong việc diệt trứng giun ở ngoại cảnh. Công trình đã khẳng định giải pháp ủ phân compost phối trộn phế phụ phẩm thực vật là biện pháp sinh nhiệt diệt mầm bệnh hiệu quả nhất (diệt sạch trứng sau 20 ngày), làm cơ sở xây dựng quy trình phòng trị tổng hợp giúp đàn lợn sạch ký sinh trùng hoàn toàn sau 2 đến 3 tháng áp dụng.