Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận Giống cây trồng là yếu tố quan trọng quyết định rất lớn trong việc tăng năng suất và Cải thiện chất lượng sản phẩm. Sản phẩm của các chương trình giống cây trồng không chỉ tạo ra các giống mới có ưu thế hơn các giống hiện có, mà điều quan trọng là phải duy trì và nhân ra nhiều lô giống có chất lượng tốt cung cấp cho nông dân.
Chọn giống có hiệu quả là giải quyết tốt mối quan hệ phức tạp giữa các tính trạng trong cơ thể cây trồng và mối quan hệ cũng phức tạp giữa cây trồng và môi trường để đảm bảo cho giống có năng suất cao và ổn định, chống chịu sâu bệnh tốt, phù hợp với yêu cầu thâm canh và điều kiện sản xuất của địa phương. Trong sản xuất cần nắm vững các đặc trưng và đặc tính của giống để từ đó có biện pháp kỹ thuật tác động thích hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Bón phân là một rong những biện pháp làm tăng năng suất cây trồng để đáp ứng nhu cầu của con người. Trong vài thập niên gần đây, phân hóa học chiếm lĩnh chủ yếu trong các loại phân được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới.
Khi bón phân phải kết hợp phân bón vô cơ và phân bón hữu cơ thì mới phát huy được hiệu quả cao và bền vững. Đạm là yếu tố dinh dưỡng cơ bản,thành phần chính của protein. Đạm đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các cơ quan sinh vật, là thành phần của nhiều hợp chất như: các ancaloit, các chất điều hòa sinh trưởng, glucozit, photphatit, enzim và diệp lục… Đạm là yếu tố có tính chất quyết định đến năng suất và chất lượng các loại rau. Cây thiếu đạm lá có màu vàng, cây sinh trưởng kém, rễ mềm, quả bé, chậm quá trình ra hoa, thậm chí thiếu nhiều sẽ gây rụng nụ, rụng quả.
Tuy nhiên nếu bón thừa đạm thời gian sinh trưởng thân lá sẽ bị kéo dài, ra hoa quả chậm, chín muộn, thân lá non mềm, chứa nhiều nước, giảm khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh. Rau bón nhiều đạm còn giảm độ giòn và hương vị của rau. 5 Kali là yếu tố tham gia tổng hợp nhiều chất trong cây như Protein, Lipit, tinh bột, diệp lục, sắc tố…Kali thúc đẩy sự hoạt động của enzim, tham gia vận chuyển các chất trong cây, thúc đẩy quá trình quang hợp. Dạng kali thích hợp cho nhiều loại rau là K2SO4.
kali có tác dụng trong việc vân chuyển và tích lũy chất đường bột trong cây, tăng khả năng chống chịu. Thiếu kali lá xoăn lại, bệnh đốm nâu phát triển, phần dưới của cây giảm tốc độ sinh trưởng [8]. Quá trình thâm canh rau, cung với việc sử dụng mất cân đối phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đã không tăng hiệu quả kinh tế mà còn tạo ra một nền nông nghiệp kém bền vững. Vấn đề được đặt ra là nghiên cứu đưa ra được liều lượng phân bón, nhất là Đạm và kali phù hợp với từng loại cây trồng, đảm bảo phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Cơ sở thực tiễn Thái Nguyên là một tỉnh thuộc Trung du miền núi phía bắc, có tổng diện tích đất tự nhiên là 353.318,9ha, trong đó diện tích đất nông, lâm nghiệp là 294. Tổng diện tích gieo trồng năm 2014 là 158.105ha (diện tích đất trồng trọt là 108. Trong đó chủ yếu là diện tích cây lương thực có hạt 92.030ha, chiếm tỷ trọng giá trị lớn trong nội ngành trồng trọt. Với điều kiện khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, ở đây có những điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất rau, nhưng sự phát triển của nó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng đó.
Về diện tích, năng suất, sản lượng còn thấp chủ yếu cung cấp nhu cầu rau trong tỉnh và chưa có giá trị xuất khẩu, bên cạnh đó chất lượng sản phẩm chưa được đảm bảo… Những năm gần đây đã áp dụng nhiều kết quả nghiên cứu trong sản xuất rau nói chung và dưa chuột nói riêng, bước đầu đã đưa lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên năng suất cũng như chất lượng sản phẩm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Do đó để có cơ sở vững chắc nhằm phát triển cây dưa chuột tại Thái Nguyên, trong từng điều kiện cụ thể của từng vùng sản xuất công tác nghiên cứu sự thích nghi, tuyển chọn các giống phù hợp với địa phương là hết sức cần thiết. Vai trò của dưa chuột * Về dinh dưỡng Các loại rau nói chung và dưa chuột nói riêng là loại thực phẩm cần thiết trong đời sống hàng ngày và không thể thay thế.
Rau được coi là nhân tố quan trọng đối với sức khỏe và đóng vai trò chống chịu với bệnh tật. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà dinh dưỡng học trong và ngoài nước khẩu phần ăn của người Việt Nam cần khoảng 2.500 Calo năng lượng hàng ngày để sống và hoạt động. Ngoài nguồn năng lượng cung cấp từ lương thực, rau góp phần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể con người. Rau không chỉ đảm bảo cung cấp chỉ số Calo trong khẩu phần ăn mà còn cung cấp cho cơ thể con người các loại vitamin và các loại khoáng đa, vi lượng không thể thiếu được cho sự sống của mỗi cơ thể.
Liều lượng vitamin trong rau khá cao lại dễ kiếm. Về mặt dinh dưỡng, xét trên kết quả phân tích hoá sinh trong quả dưa chuột thành phần hóa học: Nước 95g%; protit 0.5g% và theo mg%: Ca 23mg; P 27mg; Fe 15mg; Các vitamin A, B1, B2, PP và C. Trong 100g quả dưa chuột tươi cung cấp cho cơ thể 16 calo.1: Thành phần dinh dưỡng trong 100g rau ăn được Chỉ tiêu Thành phần hóa học (g%) Vitamin ( mg%) Kcalo/ Nước Protit Glu Tro 100g B1 B2 PP C Loại rau Bầu 95,1 0,6 2,9 0,4 14 0,02 0,03 0,40 12 Dưa chuột 95,0 0,8 2,9 0,5 16 0,03 0,04 0,10 5 Bí xanh 95,5 0,6 2,4 0,5 12 0,01 0,02 0,03 16 Bí đỏ 92,0 0,3 6,2 0,8 27 0,06 0,03 0,40 8 Dưa gang 96,2 0,8 2,0 0,3 11 0,04 0,04 0,30 4 Cà chua 94,0 0,6 4,2 0,4 20 0,06 0,04 0,50 10 Mướp đắng 94,4 0,9 2,8 0,6 16 0,07 0,04 0,3 22 Xà lách 95,0 1,5 1,8 0,8 17 0,14 0,12 0,7 15 Dền đỏ 86,2 3,3 6,2 2,4 41 0,04 0,14 1,3 35 (Nguồn: Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam, NXB Y học, 2007) [23] 7 Trong thành phần của dưa chuột chứa liều lượng cacbon rất cao khoảng 74-75%, ngoài ra còn cung cấp một lượng đường (chủ yếu là đường đơn). Nhờ khả năng hòa tan, chúng làm tăng khả năng hấp thụ và lưu thông máu, tăng tính hoạt động trong quá trình oxi hóa năng lượng của mô tế bào.
Bên cạnh đó trong thành phần dinh dưỡng của dưa chuột còn có nhiều axit amin không thay thế rất cần thiết cho cơ thể như Thianin (0,024 mg%); Rivophlavin (0,075 mg%) và Niaxin (0,03 mg%), các loại muối khoáng như Ca (23,0 mg%), P (27,0 mg%), Fe (1,0 mg%). Tăng cường phân giải axit uric và các muối của axit uric (urat) có tác dụng lợi tiểu, gây cảm giác dễ ngủ. Không những thế trong dưa chuột còn có một lượng muối kali tương đối giúp tăng cường quá trình đào thải nước, muối ăn trong cơ thể có lợi cho người mắc các bệnh về tim mạch. Ngoài ra, dưa chuột còn dùng làm mỹ phẩm, ví dụ như vitamin E tự nhiên trong dưa chuột có tác dụng thúc đẩy sự phân chia tế bào, ngăn sự lão hóa của tế bào hay nước ép dưa chuột có tác dụng dưỡng da, làm giảm nếp nhăn, làm da sáng đẹp… 1.
Giá trị kinh tế Ngoài giá trị về dinh dưỡng thì xét về mặt kinh tế dưa chuột là cây rau quả quan trọng cho nhiều vùng chuyên canh mang lại hiệu quả kinh tế cao. dưa chuột là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị.2: So sánh hiệu quả sản xuất dưa chuột với các cây trồng khác Loại cây Dưa chuột Bắp Cải Cà chua Ngô Lúa Năng suất ( tạ/ha) 250 444,4 278,8 25 44,4 Giá bán bình quân(đ) 1.300 2000 Tổng chi phí - Chi phí vật chất (1000đ/ha) 6.050 - Chi phí lao động (công/ha) 834 556 695 222 194,4 Tổng thu nhập (1.830 Thu nhập /công ( đ/công) 28,2 21,1 20,6 15,0 19,7 (Nguồn: Lê Thị Khánh, 2002) [12] 8 Trong quả dưa chuột có các loại chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như protein, các loại vitamin A, C, B1, B2.Trước đây dưa chuột được sử dụng như loại quả tươi để giải khát. Đến khi thị trường trong nước cũng như thế giới mở rộng, nhu cầu của người tiêu dùng phong phú thì việc đa dạng hóa cách sử dụng là tất yếu. Ngày nay dưa chuột được sử dụng dưới nhiều dạng khác nhau như quả tươi, trộn salat, cắt lát, đóng hộp xuất khẩu.
Bên cạnh đó dưa chuột còn là cây rau quả quan trọng cho nhiều vùng chuyên canh mang lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, chi phí đầu tư thấp có thể mở rộng trên nhiều vùng kinh tế khác nhau. Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới Theo số liệu thống kê từ FAO, năm 2012 diện tích trồng dưa chuột trên thế giới khoảng 2.109,6 nghìn ha, năng suất đạt 30,8 tấn/ha, sản lượng đạt 65. Số liệu từ bảng thống kê cho thấy Trung Quốc là nước có diện tích trồng dưa chuột lớn nhất với 1.152,5 ha chiếm 54,6% so với thế giới.
Về sản lượng Trung Quốc vẫn là nước dẫn đầu với 48.048,8 nghìn tấn, chiếm 62,09% tổng sản lượng dưa chuột của thế giới. Sau Trung Quốc là Nhật Bản với sản lượng 586,5 nghìn tấn, tiếp theo là các nước như Indonesia, Mexico… cũng có sản lượng dưa chuột lớn. Như vậy chỉ riêng Trung Quốc đã chiếm 54,6 % tổng sản lượng của toàn thế giới. Tình hình sản xuất dưa chuột của một số nước trên thế giới qua các năm 2011 - 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Quốc gia ( nghìn ha) (tấn/ha) ( nghìn tấn) Thế giới 2.048,8 Nhật Bản 11,7 11,6 49,9 50,5 584,6 586,5 Indonesia 53,5 51,4 9,7 9,9 521,5 511,5 Mexico 18,2 15,3 29,9 41,8 545 640,5 Thái Lan 24,5 25 10,6 10,6 261 265 Canada 1,9 1,9 10,6 12,0 211,7 230,8 Cuba 9,7 9,5 9,6 10,0 94,0 95,4 Israel 1,1 1,1 96,6 91,6 105,4 100,8 Pháp 1,7 1,7 76,0 76,2 134,8 135,4 Ấn Độ 25,1 26,5 6,4 6,3 160,9 168 Hungari 0,7 0,7 46,9 42,5 35,9 33,9 Italia 1,7 1,4 19,4 17,5 33,7 25,9 Malaysia 3,9 3,8 16,9 15,8 67,2 61,3 (Nguồn: FAO.ORG, 2014)[25] Nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng dưa chuột của các nước trên thế giới biến động không nhiều.