đặt vấn đề nghiên cứu biện pháp hình thành năng lực KTĐG KQHT cho SV ngành GDTC. Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu biện pháp hình thành năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”. 4 Mục đích nghiên cứu Thông qua đánh giá thực trạng năng lực KTĐG KQHT của SV chuyên ngành GDTC nhằm phát hiện những hạn chế trong công tác đào tạo GV TDTT của Trường ĐHSP Hà Nội 2, tìm ra nguyên nhân. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất biện pháp hình thành năng lực KTĐG KQHT cho SV nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo GV TDTT của Trường ĐHSP Hà Nội 2.
Mục tiêu nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định 03 mục tiêu nghiên cứu sau: Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng năng lực kiểm KTĐG KQHT của SV chuyên ngành GDTC Trường ĐHSP Hà Nội 2. Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn biện pháp hình thành năng lực KTĐG KQHT cho SV chuyên ngành GDTC Trường ĐHSP Hà Nội 2. Mục tiêu 3: Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả biện pháp hình thành năng lực KTĐG KQHT cho SV chuyên ngành GDTC Trường ĐHSP Hà Nội 2. Giả thuyết khoa học của đề tài Giả thuyết rằng, năng lực KTĐG KQHT của SV chuyên ngành GDTC Trường ĐHSP Hà Nội 2 chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường và nhu cầu của thực tiễn đổi mới GDPT.
Nguyên nhân cơ bản là do nội dung đào tạo và công tác tổ chức đào tạo chưa trang bị cho SV năng lực về KTĐG KQHT. Nếu có các biện pháp đảm bảo tính khoa học, tính khả thi, có giá trị hình thành năng lực KTĐG KQHT cho SV, thì thực trạng nêu trên sẽ được khắc phục và chất lượng đào tạo GV TDTT của Trường ĐHSP Hà Nội 2 sẽ được nâng cao. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đào tạo giáo viên và đặc điểm đào tạo giáo viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục 1.
Đào tạo giáo viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục 1. Đào tạo giáo viên và quá trình đổi mới đào tạo giáo viên Trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, hệ thống nhà trường sư phạm các cấp đã không ngừng được đổi mới và phát triển về nhiều mặt: Quy mô đào tạo Đến năm 2016, cả nước có 34 Trường ĐHSP và khoa sư phạm trong các trường đại học đa ngành, 42 Trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) và khoa sư phạm đảm nhiệm công tác đào tạo GV cho tất cả các bậc học từ mầm non đến phổ thông trung học. Số lượng và chức năng đào tạo của các Trường Trung cấp Sư phạm hầu hết đã được chuyển giao sang các Trường CĐSP. Như vậy, từ năm 2014, đa số GV các bậc học phổ thông đều được đào tạo từ trình độ cao đẳng trở lên [21].
Thống kê của Bộ GD&ĐT cho thấy, tính đến năm 2019, cả nước có 163 cơ sở đào tạo GV được phân bố trong hầu hết các tỉnh, thành cả nước nhằm cung cấp kịp thời đội ngũ GV cho từng địa phương, đặc biệt là đối với bậc học Mầm non và Tiểu học [24]. Nhiệm vụ Chuyên trách đảm nhiệm công tác đào tạo, rèn luyện đội ngũ nhà giáo, các nhà khoa học giáo dục thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau trước yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục toàn dân và sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Hình thành, định hướng phát triển nền giáo dục phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đất nước qua từng giai đoạn. Từng bước đáp ứng yêu cầu đào tạo nâng cấp và chuẩn hóa trình độ chuyên môn cho đội ngũ GV của các nhà trường; đảm bảo sự phát triển bền vững về chất lượng chuyên môn của hệ thống giáo dục nước nhà theo hướng hội nhập nền giáo dục hiện đại, tiên tiến của châu lục và thế giới.
6 Nội dung và phương thức tổ chức đào tạo Thực hiện chương trình Phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ GV và cán bộ quản lý cơ sở GDPT, CTĐT GV và chương trình GDPT có nhiều đổi mới để đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục theo định hướng khoa học, hiện đại và phát triển; biên soạn giáo trình, sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy phục vụ hoạt động dạy và học của thầy và trò ở tất cả các cấp học. Chủ trì đổi mới nội dung giáo dục, phương pháp dạy học, phương pháp tổ chức giờ học và KTĐG góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục của hệ thống GDPT. Phát huy ưu thế của đào tạo theo học chế tín chỉ; lấy tự học và phát triển năng lực tự học cho SV sư phạm làm định hướng cơ bản cho cả quá trình đào tạo của nhà trường; đổi mới và đa dạng hóa nội dung đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội, tăng cường tiềm lực đáp ứng của đội ngũ GV trước diễn biến đổi mới của GDPT. Tích cực hoá quá trình học tập của SV, thực sự đặt SV vào vị thế chủ thể của hoạt động học tập, vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi SV phải chủ động lĩnh hội và tìm kiếm tri thức; tạo mọi điều kiện để SV có cơ hội rèn luyện năng lực nghề nghiệp (NLNN) ngay trong quá trình đào tạo, đảm bảo cho SV sau khi ra trường sớm thích ứng với yêu cầu của thực tiễn lao động [3], [4].
Mô hình đào tạo Trên thế giới hiện tại có hai mô hình đào tạo GV, đó là mô hình đào tạo nối tiếp và mô hình đào tạo song song. Khác với nhiều nước trên thế giới - đào tạo GV được tiếp nối sau khi SV đã tốt nghiệp các chuyên ngành đào tạo khác - ở Việt Nam, đào tạo GV được thực hiện đồng thời giữa đào tạo chuyên ngành với đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Đặc biệt, GV bậc học Mầm non và Tiểu học, SV được đào tạo tổng hợp nhiều lĩnh vực để có thể đảm nhiệm toàn bộ chương trình của bậc học, cấp học [43], [63]. Hình thành một số Trường ĐHSP trọng điểm, một số Trường sư phạm chủ chốt và các trường sư phạm vệ tinh phát triển từ hệ thống các Trường CĐSP địa 7 phương, mở rộng loại hình và chuyên ngành đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu về số lượng GV các bộ môn mới và đặc thù của GDPT.
Đào tạo lại, đào tạo nâng cấp nhằm đáp ứng yêu cầu về chuẩn trình độ của GDPT. Quan điểm đổi mới đào tạo giáo viên của Đảng và Nhà nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh. GV phải có đức có tài. Do đó phải củng cố và tập trung đầu tư nâng cấp các trường sư phạm; không thu học phí và thực hiện chế độ học bổng ưu đãi đối với HS, SV ngành sư phạm” [5].
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH), cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về GD&ĐT, phát triển đội ngũ GV, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm” [6]. Nghị quyết số 37/2004/QH11 của Quốc hội khóa XI đã nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” [60]. Về xây dựng đội ngũ GV và cán bộ quản lý giáo dục, Chương trình phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011 đến năm 2020 của Bộ GD&ĐT đã chỉ rõ: “Khuyến khích người giỏi làm nghề dạy học. Nhà nước có chính sách thu hút những HS giỏi vào học trường sư phạm”; “Phát triển ngành sư phạm Việt Nam tiên tiến, hiện đại, đủ năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển đội ngũ GV, cán bộ quản lý giáo dục của hệ thống giáo dục mầm non, GDPT, giáo dục thường xuyên và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011 - 2020.
Xây dựng các Trường ĐHSP trở thành các trung tâm sáng tạo, đổi mới căn bản và toàn diện của ngành sư phạm cả nước” [11]. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 của Chính phủ đã chỉ rõ: Đổi mới phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ; đổi mới nội 8 dung, phương pháp đào tạo hướng vào năng lực giải quyết vấn đề, hướng vào thực tiễn theo tinh thần tạo nghiệp, doanh nghiệp, bổ sung nội dung đào tạo hướng vào hình thành những năng lực quốc tế” [69]. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã xác định: “Để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần thiết phải đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp” [7]. Nội dung cốt lõi của đổi mới công tác đào tạo GV gồm: Đổi mới cách tiếp cận mục tiêu giáo dục.
Xây dựng một hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Phát huy quyền tự chủ. Thực tiễn đổi mới giáo dục đại học cho thấy: Đào tạo theo học chế tín chỉ và tích cực hoá quá trình học tập của SV đã tạo ra sự thay đổi căn bản về công tác tổ chức đào tạo, SV được đặt vào vị thế chủ thể của hoạt động học tập, vừa được tạo điều kiện, vừa phải đáp ứng yêu cầu chủ động lĩnh hội và tìm kiếm tri thức. Vì vậy, đòi hỏi giáo dục đại học cần phải: Không chỉ là quá trình truyền thụ và thu nhận kiến thức, mà còn là quá trình rèn luyện năng lực nghề, đảm bảo SV sau khi ra trường sớm thích ứng với yêu cầu của thực tiễn lao động.
Nội dung đào tạo và hệ thống kiến thức phải mang lại cho SV niềm tin với chính những tri thức mà bản thân họ phải tiếp thu. Đảm bảo tính đồng bộ: Giữa đổi mới phương pháp và điều kiện đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp; giữa nguồn tài liệu với nhu cầu tự học, tự tìm kiếm tri thức của SV; giữa yêu cầu đổi mới với sự tăng trưởng về trình độ của mỗi giảng viên [36], [37], [50], [51], [52].