phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan về phơn. Phƣơng pháp và số liệu nghiên cƣ́u. Sự biến đổi của gió phơn điển hình khu vực Bắc Trung Bộ.
Nghiên cứu xây dựng chỉ số phơn. TỔNG QUAN VỀ PHƠN 1. Tổng quan các nghiên cứu về phơn trong và ngoài nƣớc 1. Tổng quan những nghiên cứu ngoài nước Hiê ̣n nay trên Thế giới viê ̣c nghiên cƣ́u sƣ̣ biế n đổ i của hiê ̣n tƣơ ̣ng phơn đã đƣơ ̣c thƣ̣c hiê ̣n ở rấ t nhiề u quố c gia nhƣ New Zealand, Mỹ, Canada, Bulgari.
Ngày 2 tháng 1 năm 1999, một đợt gió phơn đông nam đã gây ra dải nhiê ̣t đô ̣ hẹp ấm hơn 100C (180F) so với khu vực xung quanh ở trung tâm Đại thung lũng Tennessee phía tây bắc dãy núi Smoky. Hiện tƣợng này đặc biệt thú vị so với các hiện tƣợng gió phơn khác đã đƣợc ghi nhận trƣớc đó bởi trong hiện tƣợng này , nhiệt độ điểm sƣơng và nhiệt độ thực tế tăng lên đáng kể dẫn đến mô ̣t thay đổi nhỏ trong độ ẩm tƣơng đối bề mặt quan trắ c đƣợc. Một khối khí tƣơng đối ấm và gần bão hòa mƣ̣c 850 hPa xung quanh rặng núi cao nhất của dãy núi Smoky là nguồn gốc của không khí đoạn nhiệt bị nén quan trắ c đƣơ ̣c trên sƣờn phiá tây bắc dãy núi Smoky. Bình thƣờng các g ió phơn quan trắ c đƣơ ̣c trên trung tâm Đại thung lũng Tennessee không mạnh vào buổi chiều tuy nhiên, các sóng núi có thể kết hợp với gió phơn vào ngày 2 tháng 1 năm 1999 vì một gradient khí áp bề mă ̣t mạnh đã xuấ t hiê ̣n trên cả dãy núi, gió vƣợt quá 15 m/s (30 kt) quan sát đƣợc trong một lớp ổn định ở mƣ̣c 850 hPa thổi gần vuông góc với những dải núi Smoky cao nhất cùng sƣ̣ đóng góp của gió thẳng đứng và profile địa hình thuận lợi.
Ngoài ra, các mực độ ẩm tƣơng đối cao (> 70 %) trong nhiều lớp ranh giới gần thung lũ ng Tennessee cũng có thể làm giảm cƣờng đô ̣ của những cơn gió phơn (David M. Gaffin đã tiế n hành nghiên cƣ́u 30 năm (1971 - 2000) với mu ̣c đić h: - Xác định nhƣ̃ng đặc trƣng điển hình và các điề u kiê ̣n synop của nhƣ̃ng hiê ̣n tƣơ ̣ng phơn gây ra chênh lê ̣ch nhiê ̣t đô ̣ lớn gần phía nam daỹ núi Appalachian. - Tiếp tục kiểm tra những hiện tƣợng này đố i với chênh lê ̣ch điểm sƣơng. 13 z Các sự kiện gió phơn đƣợc xác định trên cả hai sƣờn phía tây và phía đông Nam Appalachian bằng cách so sánh nhiệt độ tƣ́c thời của tra ̣m với tra ̣m ở phiá nam Appalachian (trạm phơn) và hai tra ̣m gần đó nằm xa núi hơn (trạm không phơn).
Một hiện tƣợng gió phơn xảy ra khi nhƣ̃ng tiêu chí sau đây đƣợc đáp ứng : nhiê ̣t đô ̣ tố i thấ p hoă ̣c tố i cao hàng ngày tại trạm phơn phải cao hơn ít nhất 3°C (5°F) so với trạm không phơn, tố c đô ̣ gió đi xuố ng nhỏ nhất là 2.5 m/s (5 kt) tại trạm phơn và sự nóng lên ít nhất là 3°C (5°F) phải diễn ra trong thời kỳ gió đi xuố ng. Các sự kiê ̣n gió phơn ở sƣờn tây thƣờng xảy ra khi gió đông nam phát triển phía trƣớc một hệ thống áp thấp giƣ̃a thung lũng sông Mississippi , trong khi các hiện tƣợng gió phơn ở sƣờn đông thƣờng là kết quả của gió tây bắc sau front lạnh nông. Khố i khí tƣơng đố i ấ m mƣ̣c 850 hPa (chỉ mát hơn một vài độ so với nhiệt độ bề mặt) gầ n nhƣ là khu vƣ̣c phát sinh của gió phơn trên cả hai sƣờn. Các thử nghiệm tổng hợp của hiện tƣợng gió phơn cho thấ y gradient nhiệt độ thẳng đứng và profile gió đó là thuận lợi để hình thành sóng núi biên độ lớn , đặc biệt là ở sƣờn tây của nam Appalachian.
Mô ̣t điề u thú vi ̣ (và có thể là duy nhất ) quan trắ c đƣơ ̣c với các sƣ̣ kiê ̣n gió phơn ở nam Appalachian (so với các hiện tƣợng gió phơn đã đƣơ ̣c nghiên cƣ́u kh ác) là sự gia tăng điể m sƣơng bề mặt ta ̣i các tra ̣m phơn trong gần ba phần tƣ các hiện tƣợng ở sƣờn tây và gầ n một phần ba các hiện tƣợng ở sƣờn đông. So sánh nhƣ̃ng thƣ̉ nghiê ̣m điểm sƣơng tăng với tất cả các hiện tƣợng gió phơn gần miền nam Appalachian cho thấy sự gia tăng trong điể m sƣơng bề mặt chủ yếu là kết quả của một khối không khí bề mặt ban đầu khô (so với khố i khí mƣ̣c 850 hPa ở sƣờn đón gió) [13,14]. Gió phơn thƣờng phụ thuộc vào các đặc điểm địa hình do đó, dự báo phơn thành công phụ thuộc nhiề u vào kinh nghiệm của các dự báo viên. Susanne Drechsel và Georg J.
Mayr đã đƣa ra một phƣơng pháp dự báo xác suất khách quan sƣ̣ xuấ t hiê ̣n và cƣờng đô ̣ của phơn dựa trên số liê ̣u toàn cầ u (ECMWF). 14 z Vì địa hình mô hình khác địa hình thực tế nên gió dƣ̣ báo đƣơ ̣c không phải là một chỉ số phơn đáng tin cậy. Thay vào đó, bằng cách sử dụng dấ u hiê ̣u biế n đổ i quy mô lớn hơn của phơn tƣ̀ chênh lệch áp suất mă ̣t nằ m ngang và sƣ̣ giảm xuố ng của đƣờng đẳng nhiệt độ thế cho kế t quả tố t hơn. Những dự báo phơn đã đƣợc thử nghiệm trong khoảng thời gian 3 năm với quy mô dƣới lƣới cho thung lũng Wipp ở trung tâm dãy núi Alp để dƣ̣ báo xác xuấ t khách quan sự xuất hiện và cƣờng độ của phơn.
Sƣ̣ chênh lê ̣ch áp suấ t lớn và sƣ̣ đi xuố ng đƣờng đẳ ng nhiê ̣t đô ̣ thế càng lớn thì khả năng có phơn càng cao. Khi tốc độ gió và gradient áp suấ t đƣơ ̣c liên hê ̣ trực tiếp bằng phƣơng trình Bernoulli, sƣ̣ chênh lê ̣ch áp suấ t mă ̣t nằ m ngang trong mô hình chứng tỏ nó là một nhân tố dự báo phù hợp để dự báo cƣờng độ phơn [11]. Trong nhiều thế kỷ phơn đóng một vai trò quan trọng trong các thung lũng núi cao của Thụy Sĩ. Tại các khu vực này , phơn gây ra các gió giật mạnh hơn các gió tây.
Hachler đã thu thâ ̣p thông tin khí tƣợng của một số trạm và kể từ những năm 1960 ở Thụy Sĩ đã có sự đo lƣờng các cơn gió giật 1 giây để đánh giá khí hậu và phân tích đặc biệt các đỉnh gió cực trị. Từ những năm 1980 trở lại đây Thụy Sĩ đã có thể cảnh báo các gió giật phơn. - Hệ thống cảnh báo ở Thụy Sĩ Trung tâm Khí tƣợng Thụy Sĩ đã thiế t lâ ̣p mô ̣t hê ̣ thố ng cảnh báo cho dân cƣ và chính quyền trong trƣờng hợp có thời tiết khắc nghiệt từ cách đây vài năm với cảnh báo các gió đạt 100 km/h trên hơn 50 % bề mặt. Các cảnh báo đƣợc phát từ 1 đến 3 ngày trƣớc khi có những dấu hiệu của gió tối đa có thể xảy ra và thời gian có thể xảy ra nhất.
Các nhà chức trách của các bang ở Thụy Sĩ đƣợc thông báo bởi mạng nội bộ trong khi những ngƣời dân có thể nhận đƣợc tin nhắn SMS hoặc Fax. Chất lƣợng của tất cả các cảnh báo này (mƣa và gió) là khá tốt: trong năm 2004, POD đạt 94% và FAR đạt 48%. Thƣờng các cảnh báo nhƣ vậy đƣợc tạo ra trên cơ sở của mô hình Thụy Sĩ ALMO và từ các dự báo viên [16]. Tổng quan những nghiên cứu trong nước Do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả khách quan và chủ quan, ở Việt Nam đến thời điể m hiê ̣n nay hầ u nhƣ vẫn chƣa có nhiề u nhƣ̃ng nghiên cƣ́u đi sâu vào sƣ̣ biế n đổ i của hiê ̣n tƣơ ̣ng phơn mà thƣờng chỉ dừng lại ở việc thống kê số liệu th ông thƣờng và các khái niê ̣m ban đầ u.
Trong tài liê ̣u “Khí hâ ̣u Viê ̣t Nam” , các tác giả Phạm Ngọc Toàn , Phan Tấ t Đắc đã nhận thấy ở Bắc Trung Bộ sự xuất hiện một thời kỳ khô nóng gió Tây vào đầ u mùa ha ̣ liên quan với hiê ̣u ứng phơn của Trƣờng Sơn đối với luồng gió mùa Tây Nam. Đặc biệt ở đồng bằng Nghệ An - Hà Tĩnh thời tiết gió tây phát triển rất mạnh. Còn ở Trung Trung Bộ , trong mùa gió mùa mùa hè , luồ ng gió ẩ m tƣ̀ phiá tây thổ i tới bi ̣ dãy Trƣờng Sơn ngăn cản. Sau khi để la ̣i mô ̣t lƣơ ̣ng ẩ m đáng kể dƣới da ̣ng mƣa bên sƣờn tây , vƣơ ̣t qua núi chiụ tác du ̣ng phơn, đã đem la ̣i cho sƣờn đông và vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ một kiểu thời tiết khô nóng rất đặc tr ƣng (thời tiế t gió tây).
Trong tài liê ̣u “Khí hâ ̣u và tài nguyên khí hâ ̣u Viê ̣t Nam” , các tác giả Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Tro ̣ng Hiê ̣u đã chỉ ra m ột trong những loại hình thời tiết đặc sắc của mùa hè là gió Tây khô nóng. Thời tiết khô nóng làm thay đổi chế độ mƣa ở nhiều vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ. - Số ngày thời tiết khô nóng trung bình năm phổ biến là 20 - 40 ở vùng núi thấp Tây Bắc, 5 - 20 ở vùng núi thấp Đông Bắc, 10 - 20 ở đồng bằng Bắc Bộ, 30 - 60 ở vùng đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Một số nơi ở vùng thấp Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, hàng năm trung bình có trên 60 ngày khô nóng.
- Mùa thời tiết khô nóng bắt đầu từ tháng III, tháng IV, cao điểm vào tháng V, tháng VI, tháng VII ở các khu vực phía Bắc hoặc tháng VI, tháng VII, tháng VIII ở Nam Trung Bộ và kết thúc vào tháng VIII (các khu vực phía Bắc) hoặc tháng IX (Nam Trung Bộ). 16 z Ngoài ra, trong rấ t nhiề u nhƣ̃ng nghiên cƣ́u , các tác giả đã cung cấp những thông tin về đă ̣c điể m khí hâ ̣u cu ̣ t hể của 3 tỉnh có liên quan đến hiệu ứng gió phơn đƣơ ̣c nghiên cƣ́u trong khuôn khổ luâ ̣n văn: Nghệ An chịu ảnh hƣởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam. Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trƣng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ.