Đặt vấn đề Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới. Đặc biệt khi nước ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 07/11/2006. Tham ra sân chơi này mang đến cho nền kinh tế Việt Nam cơ hội rất lớn và cũng có những thách thức rất khó khăn cho nền kinh tế nhỏ bé của chúng ta. Thách thức ấy càng thể hiện sâu sắc với những ngành nghề nhạy cảm và khó điều chỉnh.
Có thể nói rằng: Nền nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng sẽ là ngành chịu áp lực lớn nhất khi nước ta gia nhập WTO. Chăn nuôi lợn nước ta đang được chú trọng và phát triển bởi nhu cầu về thịt ngày càng tăng, truyền thống chăn nuôi lợn ở các hộ gia đình đã có từ lâu. Sự phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hóa càng tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy chăn nuôi lợn ở hộ gia đình phát triển. Do vậy, chăn nuôi lợn có vai trò rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp nông thôn cũng như nền kinh tế nói chung.
Hàng loạt vấn đề về quả lý, kỹ thuật chăn nuôi lợn ở nước ta đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu và giải quyết nhằm đưa ngành chăn nuôi ở nước ta tiến kịp trình độ trong khu vực và thế giới. Ngoài các yếu tố như giống, nuôi dưỡng, chăm sóc thì công tác thú y rất quan trọng, quyết định sự thành bại của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Mặt khác, với lợi thế về điều kiện tự nhiên, xã hội chăn nuôi lợn đang khẳng định cơ cấu trong nghành chăn nuôi, góp phần nâng cao thu nhập của người sản xuất. Xu hướng phát triển ngành chăn nuôi lợn là một yếu tố tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội.
Phát triển chăn nuôi lợn ở các hộ gia đình góp phần đẩy mạnh quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghệp, nông thôn. e 2 Định hướng phát triển chăn nuôi lợn đến năm 2020: là phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và một số vùng. Chính vì thế đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi, cải thiện đời sống nhân. Xuất phát từ tình hình dịch bệnh thực tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho nghành chăn nuôi lợn trong nước ngày càng phát triển, việc nghiên cứu một cách đầy đủ về vi khuẩn S.
suis và khả năng gây bệnh của chúng là một vấn đề cần thiết và cấp bách. Các kết quả có được từ nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò gây bệnh của vi khuẩn này, từ đó giúp các nhà chăn nuôi chủ động được các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình bệnh viêm khớp do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị” 1. Mục đích nghiên cứu - Xác định được tình hình mắc bệnh viêm khớp tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định một số đặc điểm của vi khuẩn S. Suis gây ra bệnh viêm khớp tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái nguyên. - Đề xuất và thử nghiệm một số phác đồ điều trị cho lợn bị viêm khớp đạt hiệu quả cao. Mục tiêu nghiên cứu: - Nắm được tình hình dịch tễ nói chung và bệnh viêm khớp trên đàn lợn tại địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
e 3 - Xác định được một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S. Suis gây ra bệnh viêm khớp nuôi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Xây dựng một số phác đồ điều trị bệnh viêm khớp ở lợn.Ý nghĩa của đề tài: 1. Ý nghĩa trong khoa học - Cung cấp các dữ liệu khoa học về vi khuẩn S.
Suis gây bệnh viêm khớp ở lợn. - Đề tài là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế, là cơ hội tiếp cận với thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề. - Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với thực tiễn sản xuất, xác định được một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S. suis gây bệnh viêm khớp ở lợn nuôi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Kết quả của đề tài góp phần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, đồng thời cung cấp các dữ liệu khoa học về vi khuẩn S. Suis gây bệnh viêm khớp ở lợn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề xuất và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm khớp do S. suis ở lợn cho hiệu quả cao.
- Đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn về phòng trị bệnh viêm khớp do S. - Xác lập cơ sở khoa học cho những nghiên cứu khác về bệnh viêm khớp do S. suis ở lợn của Việt Nam góp phần trong công tác phòng và trị bệnh của lợn nuôi tại các địa bàn khác trên cả nước. e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn ở các giai đoạn Sinh trưởng là một quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sử tính chất di truyền từ đời trước. Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến sinh trưởng có nghĩa là nói đến phát dục vì hai qua trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng tích lũy về mặt lượng thì phát dục tích lũy về mặt chất. Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái và kích thước các bộ phận trong cơ thể.
Phát dục trong cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng đến khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu là tích lũy mỡ, còn phát dục thì xem như ở trạng thái bình thường. - Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn: Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật: + Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều: Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi. + Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn: Quy luật này được chia ra làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày.
Trong thực tế sản xuất người e 5 ta chia ra lợn chửa kỳ I là bắt đầu từ khi thụ thai đến 84 ngày. Lợn chửa kỳ II từ 84 ngày đến trước khi đẻ 1 tuần, giai đoạn này rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II. Theo Trương Lăng (1995)[13] bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần. Nếu lợn chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh dù nuôi dưỡng tốt, lợn con vẫn chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối lượng xuất chuồng.
Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi. - Dựa vào đặc điểm sinh lý, quy luật sinh trưởng của lợn thịt mà chia quá trình nuôi lợn thịt ra 3 giai đoạn: + Giai đoạn 1 (giai đoạn sau cai sữa): 2 - 3 tháng tuổi (1-2 tháng nuôi): Đặc điểm giai đoạn này: Lợn chuyển từ sống theo mẹ, bằng sữa mẹ sang sống tự lập, chịu sự nuôi dưỡng, chăm sóc của con người. Lợn có tốc độ phát triển nhanh (đặc biệt là tổ chức cơ bắp và xương cốt). Bộ máy tiêu hoá phát triển chưa hoàn thiện, khả năng tiêu hoá thức ăn còn hạn chế.
Vì vậy thức ăn giai đoạn này đòi hỏi phải có phẩm chất tốt, tránh thức ăn ôi mốc, lên men. Tỷ lệ thức ăn tinh chiếm 80 - 90%, thức ăn giàu đạm 15 - 18% trong khẩu phần thức. Dùng đạm động vật để bổ sung. Tỷ lệ xơ thô trong khẩu phần thấp (4 - 5%), khoáng và vitamin cao (bổ sung chúng dưới dạng premix khoáng, Vitamin (VTM) 0.5-1% trong thức ăn tinh).
Có thể bổ sung thức ăn đậm đặc, kháng sinh thô trong khẩu phần để kích thích sinh trưởng và phòng bệnh cho lợn. Ngoài ra, thức ăn giai đoạn này phải chế biến tốt để lợn dễ tiêu hoá, hấp thu dinh dưỡng và tránh ỉa chảy. Giai đoạn này lợn cần phải được vận động, tắm nắng tự do. e 6 + Giai đoạn lợn choai: 4 - 7 tháng tuổi (3 - 5 tháng nuôi): Giai đoạn này lợn phát triển rất mạnh về xương, cơ bắp.
Bộ máy tiêu hoá đã phát triển hoàn thiện nên lợn có khả năng tiêu hoá, hấp thu tốt các loại thức ăn. Khả năng thích nghi tốt với điều kiện sống. Vì vậy trong giai đoạn này ta có thể dè xẻn thức ăn tinh (tiết kiệm thức ăn tinh), tăng thức ăn thô xanh để tận dụng nguồn thức ăn sẵn có ở nước ta. Tỷ lệ thức ăn xanh có thể chiếm 30 - 40% (tính theo giá trị dinh dưỡng khẩu phần).
Song để lợn phát triển tốt ngoại hình, tầm vóc, chú ý phải cung cấp đủ protein, khoáng, VTM và cho vận động, tắm nắng nhiều. + Giai đoạn nuôi kết thúc: 8 - 9 tháng tuổi (6 - 7 tháng nuôi): Giai đoạn này lợn đã phát triển hoàn thiện, tích mỡ là chính.