Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn ở Việt Nam là một nghề có từ lâu đời và giữ vai trò hết sức quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Thịt lợn chiếm từ 70-80% tổng số thịt cung cấp ra thị trường. Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn của nước ta phát triển rất mạnh cả về số lượng, về chất lượng. Nhu cầu giống lợn có chất lượng cao của xã hội ngày càng tăng nhanh chóng.
Nhiều cơ sở chăn nuôi lợn tập chung và các hộ gia đình đã chú ý phát triển chăn nuôi lợn nái để tăng số lượng con giống, đáp ứng nhu cầu của chăn nuôi lợn thịt. Tuy nhiên, việc sản xuất lợn con giống còn gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều, làm giảm chất lượng con giống. Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng rất phổ biến trong chăn nuôi lợn giống ở nước ta. Nếu không được phòng trị bệnh kịp thời, tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng có thể gây ra tỷ lệ chết cao, thiệt hại lớn về kinh tế cho con người chăn nuôi, làm giảm nghiêm trọng chất lượng con giống và là nguyên nhân làm giảm năng suất của lợn trong giai đoạn nuôi thịt.
Lợn con bị bệnh phân trắng do nhiều nguyên nhân gây ra. Một trong các nguyên nhân quan trọng gây bệnh phân trắng ở lợn con là do các vi khuẩn như: E.coli, Salmonella… Thực tế qua nhiều năm cho thấy đàn lợn con mắc bệnh phân trắng là rất phổ biến và gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi. Vì vậy, việc điều tra tình hình mắc bệnh là rất cần thiết để kịp thời đưa ra các biện pháp điều trị nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại cho ngành chăn nuôi. Trước tình hình thực tế và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y và thầy giáo hướng dẫn, trong phạm vi chuyên đề này, tôi tiến hành đề tài: e 2 “Nghiên cứu tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng và biện pháp phòng trị tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”.
Mục đích nghiên cứu - Xác định tình hình mắc bệnh phân trắng trên đàn lợn con tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. - Đưa ra biện pháp phòng và trị bệnh phân trắng cho lợn con. Mục tiêu nghiên cứu - Nắm được tình hình mắc bệnh phân trắng trên đàn lợn con nuôi tại địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. - Chẩn đoán và đưa ra một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng trên đàn lợn con nuôi tại địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
- Có cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi và giúp đỡ địa phương có những định hướng và kế hoạch trong phát triển chăn nuôi lợn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng trị bệnh tại địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của bệnh phân trắng ở lợn con, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng bệnh phân trắng cho lợn con, góp phần khống chế bệnh, giảm thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh lý của lợn con * Đặc điểm về sinh trƣởng, phát triển của lợn con Lợn con trong giai đoạn này có tốc độ sinh trưởng phát dục rất nhanh.
Theo dõi tốc độ tăng trưởng của lợn con thấy rằng khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày gấp 7- 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 12- 14 lần. Lợn con bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn. Tốc độ nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống. Có sự giảm này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con bị giảm thường kéo dài 2 tuần, đây được gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con.
Chúng ta có thể hạn chế giai đoạn này bằng cách cho lợn tập ăn sớm và bổ sung Dextran-Fe cho lợn con vào 3- 7 ngày tuổi. Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ chất dinh dưỡng rất mạnh, lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9- 14 g protein/kg khối lượng. Trong khi đó, lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3- 0,4 g protein/kg khối lượng. Qua đó, ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch khá lớn.
Mặt khác, ta biết lợn con trong thời kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính. Vì vậy tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trưởng thành. Tác giả Nguyễn Khánh Quắc, (1993) [15] cho biết: Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều. Hàm lượng lipit tăng e 4 nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi.
Hàm lượng protein cũng tăng nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định. Hàm lượng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương. Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21- 56 ngày tuổi giảm không đáng kể. * Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa Cùng với sự tăng lên của khối lượng, cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện.
So với lúc sơ sinh thì dung tích dạ dày của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, và lúc 60 ngày tuổi thì gấp 60 lần. Sự tăng trưởng chiều dài và thể tích ruột non có thể liên quan đến hàm lượng xelluloze trong thức ăn bổ sung. Vì vậy, tập ăn sớm cho lợn con là biện pháp tốt nhất trong chăn nuôi. Mặc dù sinh trưởng nhanh, nhưng cơ quan tiêu hóa chưa hoàn thiện về chức năng, đặc biệt là hệ thống thần kinh.
Vì vậy, lợn con phản ứng chậm với các yếu tố tác động lên chúng. Do cơ quan tiêu hóa chưa thành thục nên lợn con dễ mắc bệnh tiêu hóa, dễ rối loạn tiêu hóa. Do một số men tiêu hóa thức ăn ở lợn con chưa có hoạt tính mạnh, nhất là 3 tuần đầu sau khi sinh, như pepsin, Amilaza, maltaza, saccaraza, nên khả năng tiêu hóa của các loại thức ăn khác ngoài sữa mẹ kém. Nhìn chung, lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hóa các chất bổ sung kém (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [14].
Ở lợn từ 14-16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái sinh lý bình thường nữa. Việc cho lợn tập ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện vì thế sẽ rút ngắn giai đoạn thiếu HCl. Vì khi bổ sung thức ăn sẽ kích thích tế bào thành dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị. e 5 Lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch.
Hiện tượng này được gọi là Hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con. Vì thiếu HCl tự do nên dịch không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây nhiều bệnh tiêu hóa ở lợn con (Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995) [7]. Trong dịch vị của lợn con mới đẻ trong khoảng 20-25 ngày đầu thiếu HCl. Lợn con 3-4 tuần tuổi thì dạ dày chưa có HCl tự do, vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nó nhanh chóng kết hợp với dịch vị dạ dày.
Dịch vị thu được ở lợn con 7 ngày tuổi có pH= 2,8; ở 10 ngày tuổi có pH=2,4-2,7. Do hàm lượng HCl rất ít nên hệ vi sinh vật phát triển mạnh gây ra bệnh phân trắng ở lợn con. Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], dịch tụy có ý nghĩa quan trọng đối với sự. Nó phân giải 60-80% protein, gluxit và lipit trong thức ăn.
Dịch tụy bao gồm các bicacbonat và chứa các enzyme giúp cho qua trình tiêu hóa tinh bột, protein, chất béo… Các enzyme đó là Trypsin, Cacboxypeptiaza, Galactaza, Dipeptitaza, Protaminaza, Nucleaza… Sự tiêu hoá tiêu hoá của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt. Khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết dịch vị mạnh, hơn nữa dịch vị thu được khi cho ăn thức ăn hạt chứa HCl nhiều hơn và sức tiêu hoá nhanh hơn dịch vị khi cho ăn sữa. Men amilaza và maltaza có từ khi lợn con mới đẻ song hoạt tính thấp, sau 3 tuần tuổi mới tiêu hoá tinh bột nhanh và mạnh. Men saccaraza: Đối với lợn dưới 2 tuần tuổi thì hoạt tính thấp.
Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi, men này đầu tiên hoạt động mạnh sau đó giảm dần. e 6 Men lipaza và chimosin: 2 men này có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu sau đó giảm dần. * Đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng. Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân: - Lông thưa, lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ glycozen dự trữ trong cơ thể còn thấp, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể lợn so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp nên lợn con dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
- Hệ thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh nên năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng khi khí hậu bên ngoài thay đổi đột ngột. Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít , nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ chuồ ng nuôi và tuổi của lợn con.