ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ngô (Zea may L.) là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, có diện tích đứng thứ 3 thế giới sau lúa mì và lúa nước. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác. Cây ngô không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn. Sản xuất ngô cả nước qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng: năm 2001 tổng diện tích ngô là 730.000 ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm 2010, diện tích ngô cả nước 1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn.
Tuy vậy, cho đến nay sản xuất ngô ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu từ trên dưới 1 triệu tấn ngô hạt. Để năng suất ngô đạt hiệu quả tốt nhất ngoài việc sử dụng giống ngô chất lượng cao, biện pháp chăm sóc, bón phân cân đối hợp lý thì cần quan tâm đến tình hình bệnh hại ngô và biện pháp quản lý, phòng chống chúng. Bệnh đốm lá nhỏ do nấm Bipolaris maydis gây hại lá ngô là bệnh khá phổ biến ở Việt Nam. Chúng làm cho lá bị cháy, biến vàng, mất khả năng quang hợp.
Mức độ tác hại của bệnh phụ thuộc vào từng giống, từng vùng, từng chế độ canh tác khác nhau. Bệnh nặng làm cây sinh trưởng kém, lá chóng tàn lụi, thậm chí cây con có thể bị chết, năng suất ngô giảm nhiều (12 - 30%). Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của Khoa Nông học - Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Nguyễn Hà, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu bệnh đốm lá nhỏ (Bipolaris maydis) hại ngô vụ xuân hè tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1.
Mục đích Xác định đặc điểm phát sinh, phát triển, sinh học của nấm gây bệnh đốm lá nhỏ Bipolaris maydis trên ngô và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ. Yêu cầu - Điều tra thành phần bệnh hại và mức độ phổ biến trên diện tích trồng ngô tại địa phương. - Điều tra diễn biến bệnh đốm lá nhỏ trên một số giống ngô trồng tại địa phương, chế độ luân canh, chế độ bón phân, trồng xen, các vùng trồng ngô, mật độ và thời vụ trồng khác nhau. - Xác định một số đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của nấm gây bệnh đốm lá nhỏ Bipolaris maydis.
- Khả năng lây bệnh của nấm Bipolaris maydis trên ngô ở các phương pháp lây khác nhau. - Đánh giá tính kháng nhiễm trên một số giống ngô kháng nhiễm bệnh đốm lá nhỏ trong nhà lưới. - Khảo sát hiệu lực một số thuốc trừ nấm Bipolaris maydis trong phòng thí nghiệm và đối với bệnh đốm lá nhỏ ngoài đồng ruộng. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ NGÔ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước; sản lượng thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc. Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,5 triệu ha, năng suất 19,4 tạ/ha, sản lượng 205 triệu tấn, đến năm 2009, diện tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 159,5 triệu ha, năng suất bình quân 51,3 tạ/ha, sản lượng 817,1 triệu tấn. Trong đó Mỹ, Trung Quốc, Brazil là những nước đứng đầu về diện tích và sản lượng. Cây ngô được đánh giá là cây trồng có vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu cây trồng ở nước ta; năm 2010 là 1126,9 nghìn ha (trong đó trên 90% diện tích trồng ngô lai), sản lượng đạt trên 4,6 triệu tấn.
Tuy vậy sản xuất ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hàng năm nước ta phải nhập khẩu lượng lớn ngô nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi. Theo Cục trồng trọt (2011), những năm qua nhà nước cũng đã hết sức quan tâm đầu tư cho việc nghiên cứu phát triển cây ngô. Hai dự án phát triển giống ngô lai đã được đầu tư là dự án phát triển giống ngô lai giai đoạn 2006 - 2010 và dự án phát triển sản xuất giống ngô lai giai đoạn 2011 - 2015. Nhà nước có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ giống đã khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước sản xuất, cung cấp giống, giới thiệu các giống mới có năng suất, chất lượng tốt vào sản xuất, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất ngô đã được chuyển giao đến người nông dân.
Tuy nhiên việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vẫn còn nhiều hạn chế, với địa hình phức tạp, trên 70% diện tích ngô được trồng trên đất có độ cao, phụ thuộc vào nước trời, ít đầu tư thâm canh nên năng suất ngô vẫn còn thấp so với tiềm năng của giống. Năm 2010, NSTB cả nước đạt 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn so với năng suất ngô có thâm canh là 70 - 80 tạ/ha. Bên cạnh đó các giống ngô có khả năng thích nghi tốt với điều kiện thời tiết bất thuận như hạn hán và mưa lũ vẫn còn thiếu. Trong những năm vừa qua diện tích và thị trường ngô chưa có biến động lớn, chỉ có năng suất ngô là tăng tương đối nhanh ở nhiều quốc gia.
Năng suất ngô tăng mạnh sẽ làm cho sản lượng ngô tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Trung Quốc. 3 Giá ngô trên thị trường thế giới trong thời gian qua đã có sự biến động đáng kể, bình quân thời kỳ 1994 - 1999 là 138 - 142 USD/tấn; hiện nay là 300 - 305 USD/tấn. Các nước xuất khẩu ngô chính vẫn là Mỹ, Achentina, Pháp… các nước nhập khẩu ngô chính gồm Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Malaysia, Đài Loan… Ở Việt Nam, hiện tại giá 1 kg ngô hạt dao động từ 7. Nhu cầu ngô hạt cần cho công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi liên tục tăng trong khi diện tích trồng ngô và năng suất ngô Việt Nam đã bị chững lại, với đà tăng trưởng của ngành chăn nuôi và nhu cầu ngô phục vụ công nghiệp sản xuất Ethanol hiện nay đòi hỏi nguồn nguyên liệu ngô là rất lớn.
Vì vậy, sản xuất ngô trên toàn cầu nói chung và ở Việt Nam nói riêng chắc chắn sẽ được tập trung phát triển mạnh trong thời gian tới. Diện tích ngô các tỉnh phía Bắc tăng liên tục trong thời gian qua, vùng TDMNPB có diện tích tăng liên tục trong giai đoạn 2005 - 2010; vùng Bắc Trung bộ, diện tích đang có xu hướng giảm dần; vùng đồng bằng sông Hồng, diện tích tương đối ổn định (số liệu, hình 2. Diện tích ngô các vùng phía Bắc 800 Diện tích (1000 ha) 700 692.6 BTB 200 Toàn miền 149. Diện tích ngô các vùng phía Bắc giai đoạn 2005 – 2010.
Nguồn: Cục trồng trọt (2011) - Năng suất: NSTB ngô toàn miền tăng liên tục trong giai đoạn 2005 - 2010, tốc độ tăng tăng bình quân toàn miền 0,82 tạ/ha/năm, vùng TDMNPB tăng mạnh nhất đạt 1tạ/ha/năm, vùng BTB là 0,8 tạ/ha/năm, vùng ĐBSH là 0,19 tạ/ha/năm (số liệu bảng 2. Năng suất ngô các vùng phía Bắc giai đoạn 2005 – 2010 Năng suất ngô giai đoạn 2005 - 2010 (tạ/ha) Toàn miền Năm ĐBSH TDMNPB BTB (tạ/ha) 2005 40,4 28,1 34,8 36,0 2006 40.2 28,6 36,0 37,3 2007 41,2 32,9 36,3 39,3 2008 43,6 33,6 36,1 40,1 2009 42,4 34,2 39,6 40,1 2010 45,2 33,2 37,9 40,9 Tăng TB/năm 0,19 1,0 0,8 0,82 (tạ/ha) Nguồn: Cục trồng trọt (2011) Ngành sản xuất ngô trên thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ XX đến nay. Năm 2000, năng suất ngô trung bình của thế giới đạt 4,3 tấn/ha, năm 2005 đạt 4,8 tấn/ha và đến năm 2009, diện tích trồng ngô thế giới đạt 156,04 triệu ha, năng suất 5,2 tấn/ha và sản lượng đạt kỷ lục với 808,8 triệu tấn. Mỹ là nước đứng đầu thế giới cả về diện tích, năng suất và sản lượng ngô.
Nhờ ứng dụng ngô lai vào sản xuất đại trà nên kết quả sản xuất ngô của nước Mỹ liên tục tăng. Tiếp đến Trung Quốc với diện tích 30,4 triệu ha, năng suất đạt 5,1 tấn/ha và sản lượng đạt 155 triệu tấn. Các nước có năng suất ngô cao là: Mỹ (10,34 tấn/ha), Argentina (8,33 tấn/ha), Canada (8,31 tấn/ha). Hiện nay sản lượng ngô sản xuất ra ngày càng tăng và châu Á là nơi có sản lượng ngô đứng đầu thế giới.
Đi đầu là Trung Quốc với diện tích đứng thứ hai thế giới chiếm 20% (2009) và Đông Nam Á đạt 27 triệu tấn. Theo dự báo của Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam, diện tích ngô của cả nước phấn đấu đạt 1.000 ha vào 2015 (với năng suất bình quân 5,5 tấn/ha, tổng sản lượng 1.000 tấn), nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi, các nhu cầu khác trong nước và từng bước tham gia xuất khẩu. Vào năm 2009, Việt Nam đạt 1.200 nghìn ha, năng suất đạt 4,4 tấn/ha và tổng sản lượng 5,3 triệu tấn. Vậy hiện nay, sản xuất ngô của nước ta mới đạt 75% so với mục tiêu vào năm 2015 và 60% so với mục tiêu vào năm 2020.
TÌNH HÌNH GÂY HẠI DO BỆNH ĐỐM LÁ NHỎ (Bipolaris maydis) 2. Phân bố Bệnh đốm lá nhỏ ngô do nấm Bipolaris maydis gây ra phân bố ở hầu khắp các châu lục. 5 Châu Âu: Bulgaria, Croatia, Síp, Đan mạch, Nam Tư cũ, Đức, , Bồ Đào Nha, Romania, Liên bang Nga, Serbia và Montenegro, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Ukraina. Châu Á: Bangladesh, Bhutan, Vương quốc Bru-nây, Campuchia, Trung Quốc, Đảo Christmas (Ấn Độ Dương, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thái Lan, Việt Nam.
Châu phi: Benin, Burkina Faso, Cameroon, Cộng hòa dân chủ Congo, Côte d'Ivoire, Ai Cập, Gabon, Ghana, Guinea, Kenya, Madagascar, Malawi, Mauritius, Mozambique, Niger, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, Nam Phi, Sudan, Swaziland, Tanzania, Zambia, Zimbabwe. Trung Mỹ và Caribbean: Bahamas, Belize, Cuba, El Salvador, Guadeloupe, Guatemala, Jamaica, Nicaragua, Panama, Puerto Rico, Trinidad và Tobago. Bắc Mỹ: Canada, Mexico, Hoa Kỳ. Nam Mỹ: Argentina, Bolivia, Brazil, Colombia, Ecuador, Paraguay, Suriname, Venezuela.
Châu Đại Dương: American Samoa. Nghiên cứu trên thế giới Cây ngô là cây lương thực rất quan trọng nên đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về cây ngô. Một trong những nghiên cứu quan trọng nhất mà các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu là tình hình sâu bệnh hại trong cây ngô ngoài sản xuất và trong quá trình bảo quản.