CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BỀ MẶT CHỨC NĂNG KHÔNG DÍNH ƯỚT 1. Bề mặt chức năng Bề mặt chức năng là những bề mặt vật liệu đã được chỉnh sửa bằng các phương pháp Lý – Hóa để thay đổi các đặc tính bề mặt, phục vụ cho các mục đích khác nhau [13,2,5,8]. Các phương pháp để thay đổi tính chất bề mặt của vật liệu về nguyên tắc có thể chia ra thành 03 cách tiếp cận chính: xử lý bề mặt (surface treatment) [15,40,29], thay đổi cấu trúc (surface modification) [15,36,9], và sơn phủ bề mặt (surface coating) [34,39]. Các yêu cầu về việc tinh chỉnh các bề mặt chức năng có liên quan chặt chẽ đến các ứng dụng cho cuộc sống, sản xuất hiện đại.
Có rất nhiều bề mặt chức năng được nhắc đến và dễ dàng tìm thấy trên thực tế có thể kể đến như: chống đóng băng (anti-icing) [30,37,6,12,18], chống phản xạ (anti-reflective) [21,38,35], chống dính ướt (liquid repellency) [31], thu thập nước trong không khí (water collection) [16] …. Trong phương pháp đầu tiên, xử lý bề mặt đồng nghĩa với việc thay đổi cấu tạo phân tử của bề mặt để phục vụ cho các mục đích chính như: loại bỏ chất bẩn tồn dư, làm tăng tương tác với các chất kết dính như mực in, chất phủ, sơn hoặc bề mặt khác bằng cách tạo ra một liên kết bền vững giữa hai bề mặt. Sự kết dính về cơ bản là một phản ứng hóa học xảy ra giữa 1 đến 3 lớp phân tử trên cùng một bề mặt.1: Xử lý bề mặt bằng Plasma để tăng độ bám dính 4 Thay đổi cấu trúc bề mặt là việc chỉnh sửa bề mặt vật liệu ban đầu bằng cách thay đổi các cấu trúc vật lý, hóa học hoặc sinh học khác với những đặc điểm ban đầu được tìm thấy trên bề mặt của vật liệu (hình 1. Các phương pháp được sử dụng để thay đổi cấu trúc bề mặt rất đa dạng bao gồm ăn mòn khô, ăn mòn ướt, in thạch bản… Hình 1.2: Thay đổi cấu trúc bề mặt bằng công nghệ in lithography Phủ (sơn phủ) bề mặt là một kĩ thuật trong đó bề mặt của vật liệu sẽ được bao phủ bởi một lớp vật liệu khác, chẳng hạn như bột, màng hoặc thậm chí là các vật vật liệu khối cho các ứng dụng cụ thể tùy thuộc vào vật liệu phủ và bề mặt được phủ.
Hiện tượng dính ướt Hiện tượng dính ướt xảy ra khi có sự tiếp xúc giữa 3 pha: hai pha lỏng (hoặc một pha lỏng và một pha khí) với một pha rắn. Bề mặt rắn càng ưa nước (hydrophilic) thì diện tích nước trải ra trên nó càng lớn. Ngược lại nếu một giọt nước (pha lỏng) nằm trên bề mặt rắn không ưa nước (hydrophobic), nó sẽ có xu hướng co cụm lại sao cho diện tích bề mặt tiếp giáp nước-không khí (pha khí) và diện tích bề mặt tiếp giáp nước-bề mặt rắn nhỏ nhất có thể. Chúng ta có thể dễ dàng quan sát hiện tượng này khi nhìn những giọt sương trên bề mặt lá sen và lá khoai.3: Hiện tượng dính ướt và không dính ướt 1.
Sức căng bề mặt, năng lượng bề mặt Sức căng bề mặt (hay hệ số căng của bề mặt) được định nghĩa là lực căng trên một đơn vi chiều dài cắt ngang bề mặt. Cũng có thể định nghĩa sức căng bề mặt là công cơ học thực hiện khi lực căng làm cho diên tích bề mặt thay đổi một đơn vi diện tích. Như vậy nó cũng là mật độ diện tích của năng lượng; ý nghĩa này mang lại tên gọi năng lượng bề mặt. Năng lượng bề mặt là năng lượng tự do cần thiết để phá vỡ liên kết giữa các phân tử khi nó được tạo ra.
Một cách hiểu khác về năng lượng bề mặt đó là công cần thiết để cắt rời một một vật thể để tạo ra hai bề mặt riêng biệt. Cách phổ biến nhất để đo năng lượng bề mặt là thông qua thí nghiệm đo góc tiếp xúc. Dựa vào kết quả đo góc tiếp xúc và sức căng bề mặt đã biết của chất lỏng chúng ta có thể xác đubgh được năng lượng bề mặt. Giữa năng lượng bề mặt và góc tiếp xúc, và vì thế độ dính ướt, có sự liên hệ chặt chẽ với nhau.
Một bề mặt có năng lượng thấp sẽ có độ dính ướt thấp, góc tiếp xúc cao, và ngược lại. Độ dính ướt Hình 1.4:Góc tiếp xúc giữa chất lỏng và chất rắn tại mặt phân cách Dính ướt là một đặc tính quan trọng của bề mặt, là kết quả của sự tương tác giữa các phân tử chất lỏng và chất rắn ở mặt phân cách. Mức độ dính ướt phụ thuộc vào tương quan giữa lực liên kết trong và liên kết ngoài (cohesive và adhesive). Độ dính ướt là khái niệm rất quan trọng trong công nghệ chế tạo nano vì nó liên quan trực tiếp đến hình thái tiếp xúc với chất lỏng cũng như tính toán năng lượng bề mặt.
Một bề mặt có độ dính ướt cao đồng nghĩa với có góc tiếp tại mặt phân cách thấp và ngược lại. Đo góc tiếp xúc là phương pháp điển hình để xác định định tính độ dính ướt: 1. Trạng thái dính ướt 1. Trạng thái Wenzel Trạng thái Wenzel mô tả chế độ dính ướt đồng nhất khi toàn bộ bề mặt có năng lượng bề mặt giống nhau, được biểu diễn qua hình 1.5 và công thức: cos 𝜃𝑊 = r cos 𝜃 (1.1) trong đó 𝜃𝑊 là góc tiếp xúc khả kiến đo được tương ứng với trạng thái cơ bản.
𝜃 là góc tiếp xúc Young, ứng với bề mặt phẳng không có cấu trúc. Tỉ lệ độ nhám r đo đạc mức độ ảnh hưởng của độ nhám đến bề mặt. Tỉ lệ độ nhám được định nghĩa là tỉ lệ giữa diện tích tiếp xúc thật với diện tích tiếp xúc khả kiến.5: Trạng thái tiếp xúc Wenzel 1. Trạng thái Cassie – Baxter Hình 1.6: Trạng thái tiếp xúc Cassie – Baxter Trạng thái tiếp xúc Cassie- Baxter được đề xuất bởi hai nhà khoa học A.
Baxter đề xuất khi quan sát sự tiếp xúc giữa chất lỏng với một bề mặt không đồng nhất.6 mô tả hình thái của nước ở trên một bề 8 mặt cấu trúc với năng lượng không đồng nhất và được đo đạc thông qua công thức: cos 𝜃𝐶𝐵 = -1 + f (1 + cos θ) (1.2) trong đó f là tỉ số diện tích của bề mặt chất rắn có tiếp xúc với chất lỏng, 𝜃𝐶𝐵 là góc tiếp xúc khả kiến đo đạc được tương ứng với trạng thái cơ bản. θ là góc tiếp xúc Young, ứng với bề mặt phẳng không có cấu trúc. Một điều đáng lưu ý là f luôn <1 và nếu f=1 thì công thức trên lại trở về công thức Wenzel. Trạng thái của nước ở trên bề mặt lá sen là trạng thái tiếp xúc Cassie- Baxter, vốn được tạo nên bởi sự không đồng nhất trong cấu trúc bề mặt khi có sự xen kẽ của các hình chóp cụt kích thước nano và không khí.
Một cấu trúc như vậy sẽ đảm bảo một mặt cầu của nước ở giữa các cấu trúc nano gần với mặt, áp suất Laplace quá nhỏ để có thể làm nước xuyên sâu vào giữa các cấu trúc như là trạng thái Wenzel. Kết luận này đã định hướng chúng tôi trong việc chế tạo các cấu trúc nano. Bề mặt không dính ướt Bề mặt không dính ướt (Superhydrophobic) là bề mặt có tính kỵ nước cao tức là cực kỳ khó làm ướt, các góc tiếp xúc trên bề mặt lớn hơn 150° [20,21]. Một giọt nước bắn vào các loại bề mặt này hoàn toàn có thể bật lại như một quả bóng đàn hồi.
Các bề mặt không dính ướt được các nhà khoa học tin tưởng sẽ là giải đáp tối ưu nhất cho việc chống bám bẩn và chống băng tuyết vì những tính chất rất đặc biệt của nó: Có góc tiếp xúc với chất lỏng rất lớn (>150° ). Góc nghiêng nhỏ hơn 2°, có nghĩa là chỉ nghiêng bề mặt với một góc nhỏ hơn 2 độ đã có thể làm chất lỏng trượt khỏi bề mặt. Việc chế tạo các bề mặt không dính ướt được lấy cảm hứng từ hình thái của nước trên bề mặt lá sen. Hình ảnh chụp từ kính hiển vi điện tử quét cho thấy sự kết hợp giữa cấu trúc nano dạng cột đa kích thước trên bề mặt và lớp sáp kỵ nước[10].7 a,b là ảnh SEM cấu trúc bề mặt lá sen và hình thái các giọt 9 nước trên bề mặt.
Sự đan xen dày đặc và tính kị nước của các cấu trúc dạng cột tạo nên mặt khum gần như phẳng giữa các cấu trúc, khiến cho áp suất Laplace gần như không đáng kể và nước chỉ tiếp xúc với các đỉnh cấu trúc thay vì thâm nhập sâu vào bên trong và trải rộng ra như trên các bề mặt thông thường.7: Cấu trúc bề mặt lá sen (a) và hình thái các giọt nước trên bề mặt lá sen (b), bề mặt mô phỏng cấu trúc lá sen được chế tạo (c) và hình thái giọt nước trên bề mặt (d) Các bề mặt mô phỏng được chế tạo theo hướng kết hợp giữa các cấu trúc nano đều đặn và hợp chất hóa học kị nước để tạo nên một bề mặt có hình thái giống với lá sen với góc tiếp xúc hơn 150° và góc nghiêng dưới 2° (Hình 1.7a,b) Việc chế tạo các bề mặt không dính ướt là không hề dễ dàng, đòi hỏi sự kết hợp rất hoàn hảo giữa cấu trúc nano với các hợp chất hóa học không dính ướt. Nếu chỉ có cấu trúc nano riêng lẻ, bề mặt sẽ ở trạng thái dính ướt tuyệt đối (superhydrophilic); nếu chỉ có các hợp chất hóa học kị nước mà không có cấu trúc nano, bề mặt sẽ ở trạng thái dính ướt (hydrophilic) hoặc không dính ướt hydrophobic với góc tiếp xúc trong khoảng từ 10o đến 110o. Các nhà khoa học tin rằng, việc chất lỏng va chạm hoặc xuất hiện trên một bề mặt không dính ướt 10 thì sẽ kìm hãm quá trình hóa rắn của chất lỏng, và nếu như có dính ướt trên bề mặt thì diện tích tiếp xúc cũng rất nhỏ, có thể gỡ bỏ dễ dàng hơn khi đem so sánh với các bề mặt gồ ghề khác. Các nghiên cứu hiện nay vẫn cố gắng để tối ưu hóa các bề mặt không dính ướt cho mục đích chống đóng băng.
Các nghiên cứu gần đây của TS. Nguyễn Thanh Bình và cộng sự tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên đã trình bày các kết quả ăn mòn ướt trên bề mặt kim loại và đánh giá các yếu tố có liên quan, cho thấy một bề mặt cấu trúc đa lớp micro-nano và kết quả rất tốt với các mục đích chống bám bẩn và chống băng tuyết.