CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHẬN DẠNG LÒ HƠI Phần đầu chương này trình bày khái quát về bài toán nhận dạng (hệ thống), phân loại các phương pháp nhận dạng thông dụng cũng như các bước cần tiến hành khi nhận dạng hệ thống. Phần tiếp theo của chương tóm lược một số kết quả trong lĩnh vực nhận dạng lò hơi; trên cơ sở đó xác định hướng tiếp cận và phương pháp nhận dạng sử dụng trong luận văn. Sơ lược về vấn đề nhận dạng 1. Tổng quan về phương pháp Đại đa số các phương pháp điều khiển đều dựa trên mô hình động học của đối tượng.
Công việc xây dựng các mô hình toán học mô tả các hệ động học có sử dụng các thông tin thu được từ hệ thống thực được gọi là nhận dạng hệ thống. Một cách khái quát nhất, việc mô hình hóa thường được tiếp cận theo một trong các hướng sau đây: Phương pháp lý thuyết (còn được gọi là nhận dạng “hộp trắng”): dựa trên các quy luật vật lý, hóa học…, cùng với các thông số kỹ thuật của thiết bị để xác định cấu trúc mô hình và giá trị của các tham số. Phương pháp này có ích trong việc khảo sát đặc tính động học, xác định cấu trúc mô hình, thiết kế sách lược điều khiển nhưng ít phù hợp cho việc xác định các tham số mô hình. Trên thực tế, cách tiếp cận này ít được sử dụng do mức độ phức tạp, đòi hỏi hiểu biết sâu sắc hệ thống cũng như việc khó xác định chính xác các thông số kỹ thuật của thiết bị.
Phương pháp thực nghiệm (còn được gọi là nhận dạng “hộp đen”): quan sát tín hiệu vào ra, phân tích số liệu thu được để xác định mô hình trực tiếp từ thực nghiệm. Phương pháp này có thể giúp ước lượng tương đối chính xác mô hình, nhưng đòi hỏi người dùng biết trước cấu trúc của mô hình cũng như dữ liệu đo phải đủ tin cậy. Trong nhiều trường hợp dữ liệu đo chịu nhiều ảnh hưởng của nhiễu hoặc 4 mô hình phức tạp, số lượng tham số cần xác định lớn, phương pháp này tỏ ra kém chính xác. Phương pháp kết hợp lý thuyết và thực nghiệm (còn gọi là nhận dạng “hộp xám”): kết hợp việc phân tích lý thuyết và phân tích dữ liệu thực nghiệm.
Nhờ đó, phương pháp này kế thừa ưu điểm của cả hai phương pháp nêu trên, giúp thu được mô hình có độ chính xác cao nhưng vẫn đảm bảo được tính đơn giản và tin cậy. Phân loại các phương pháp nhận dạng Các phương pháp nhận dạng được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí, bao gồm: a. Theo dạng mô hình được sử dụng Mô hình liên tục (continuous-time model): mối quan hệ giữa các đại lượng đặc trưng cho quá trình được mô tả bằng một hệ các phương trình vi phân trên miền thời gian liên tục. Mô hình gián đoạn (discrete-time model): mối quan hệ giữa các đại lượng đặc trưng cho quá trình được mô tả bằng một hệ các phương trình sai phân trên miền thời gian gián đoạn.
Do dữ liệu thu được trong thực nghiệm đều là dữ liệu trên miền gián đoạn, nên mô hình gián đoạn thường được sử dụng trong thực nghiệm. Mô hình tuyến tính (linear model): mối quan hệ giữa các đại lượng đặc trưng cho quá trình được mô tả bằng một hệ phương trình tuyến tính. Mô hình tuyến tính được ưa chuộng do sự phát triển của các phương pháp điều khiển tuyến tính. Mô hình phi tuyến (nonlinear model): mối quan hệ giữa các đại lượng đặc trưng cho quá trình được mô tả bằng một hệ phương trình trong đó có ít nhất một yếu tố phi tuyến.
Mô hình vào ra (input – output model): mô tả mối quan hệ giữa các biến vào – ra thay vì các liên kết nội tại bên trong hệ thống. Mô hình trạng thái (state – space model): mô tả mối quan hệ giữa các biến vào – ra thông qua các biến trạng thái. Theo điều kiện thực nghiệm Nhận dạng chủ động: tác động tín hiệu kích thích ở biến đầu vào hoặc đầu ra sao cho phù hợp với đặc tính động học của quá trình, làm tăng độ tin cậy và chất lượng cho dữ liệu. Phương pháp này có thể khá tốn kém và không khả thi với các quá trình đang vận hành ổn định.
Nhận dạng bị động: sử dụng các số liệu thu được trong lúc hệ thống đang vận hành mà không làm ảnh hưởng nhiều đến quá trình công nghệ. Phương pháp này có thể không đảm bảo tính bền (giàu thông tin) nếu sự thay đổi của tín hiệu kích thích là quá nhỏ hoặc quá đơn giản so với đặc tính động học của quá trình thực. Nhận dạng vòng hở (open-loop identification): thu thập dữ liệu khi hệ thống bị cách li khỏi vòng điều khiển. Phương pháp này có thể không đảm bảo tính ổn định và chất lượng khi đang vận hành quá trình công nghệ.
Nhận dạng vòng kín (closed-loop identification): thu thập dữ liệu trong khi hệ thống vẫn làm việc ổn dịnh dưới sự điều khiển của các bộ điều khiển. Mặc dù có thể đảm bảo tính ổn định của quá trình công nghệ, phương pháp có thể gây khó khăn khi sử dụng một số thuật toán nhận dạng, do sự tương quan ngược giữa các biến vào ra thông qua việc phản hồi. Nhận dạng trực tiếp (direct identification): sử dụng giá trị các biến vào – ra của hệ thống, không cần thông tin chính xác về bộ điều khiển. Tuy nhiên, nếu quá trình nhận dạng được thực hiện trong vòng kín, cần lưu ý đến tính nhất quán và hội tụ của phương pháp nhận dạng.
Nhận dạng gián tiếp (indirect identification): sử dụng giá trị các biến vào – ra của hệ thống và mô hình chính xác của bộ điều khiển. Phương pháp này có thể được áp dụng cho bài toán nhận dạng trong vòng kín, nhưng đòi hỏi thông tin về bộ điều khiển phải chính xác. Nhận dạng vào ra cùng nhau (joint input-output identification): sử dụng giá trị các biến vào – ra của hệ thống lẫn giá trị đặt của bộ điều khiển để nhận dạng cùng lúc mô hình hệ kín và mô hình bộ điều khiển. Từ đó có thể tính được mô hình của hệ hở, vì vậy khắc phục được nhược điểm của phương pháp nhận dạng gián tiếp.
Theo yêu cầu công nghệ: Nhận dạng ngoại tuyến (offline identification): tiến hành thu thập toàn bộ dữ liệu trước, sau đó mới tiến hành nhận dạng, kiểm chứng trên tập dữ liệu đã thu được. Nhận dạng trực tuyến (online identification): thu thập dữ liệu và tiến hành nhận dạng đồng thời để phục vụ việc chỉnh định trực tuyến, liên tục cho bộ điều khiển hoặc tối ưu hóa theo thời gian thực. Theo phương pháp ước lượng tham số Phương pháp bình phương cực tiểu (least-squares) Phương pháp phân tích tương quan (correlation analysis) Phương pháp phân tích phổ (spectrum analysis) Phương pháp biến phụ (instrumental variable) Phương pháp xác suất cực đại (maximum likelihood) Phương pháp sai số dự báo (prediction error method) Phương pháp không gian con (subspace method) Về mặt tư tưởng, các phương pháp này có thể độc lập nhưng về bản chất không hoàn toàn khác biệt; nhiều khi chúng còn là dẫn xuất của nhau. Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng, do đó tùy theo từng đối tượng, yêu cầu và hoàn cảnh sự dụng cụ thể, chúng ta khó có thể khẳng định sự vượt trội tuyệt đối của riêng một phương pháp nào.
Các bước tiến hành nhận dạng i. Thu thập số liệu và khai thác thông tin ban đầu về quá trình: mô tả các quá trình vật lý, hóa học xảy ra bên trong đối tượng, các thông số vận hành, các giới hạn trên và dưới của các đại lượng có liên quan… Từ đó xác định các biến vào ra cần quan tâm, các điều kiện biên và các giả thiết có liên quan. Lựa chọn phương pháp nhận dạng: tùy theo từng trường hợp cụ thể, lựa chọn phương pháp nhận dạng phù hợp, chẳng hạn như nhận dạng trực tuyến/ngoại tuyến, 7 nhận dạng vòng hở/vòng kín, nhận dạng chủ động/bị động, thuật toán ước lượng tham số và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng mô hình. Thu thập số liệu thực nghiệm: thu thập dữ liệu để thỏa mãn được mối quan hệ vào ra giữa các biến, xử lý thô các số liệu nhằm loại bỏ những giá trị đo kém tin cậy, lọc nhiễu, chuẩn hóa.
Xác định dạng và cấu trúc mô hình: từ yêu cầu về mục đích sử dụng mô hình và khả năng ứng dụng của phương pháp nhận dạng, chọn dạng mô hình (phi tuyến/tuyến tính, liên tục /gián đoạn…). Đưa ra các giả thiết ban đầu về cấu trúc mô hình (bậc tử số, mẫu số của hàm truyền đạt, có hay không có trễ. Xác định tham số mô hình: ước lượng giá trị các tham số của mô hình theo phương pháp, thuật toán đã chọn. Nếu tiến hành theo từng mô hình con (ví dụ từng kênh vào ra, từng khâu trong quá trình) thì sau đó cần kết hợp chúng lại thành một mô hình tổng thể.
Mô phỏng, kiểm chứng và đánh giá mô hình: thực hiện mô phỏng để kiểm chứng độ chính xác. Việc kiểm chứng thông thường được thực hiện bằng việc sử dụng mô hình để mô phỏng dữ liệu vào ra, sau đó kết quả thu được sẽ đem so với bộ dữ liệu vào ra thu thập được từ thực nghiệm. Dữ liệu thực tế dùng để kiểm chứng phải là bộ dữ liệu khác với bộ dữ liệu dùng để tính toán thiết lập mô hình. Lịch sử nghiên cứu trong lĩnh vực nhận dạng lò hơi Từ những năm 1950 đến nay, đã có rất nhiều công trình bàn về lĩnh vực mô hình hóa lò hơi, trong đó phổ biến nhất là hướng tiếp cận nhận dạng hộp đen và hộp xám.
Theo hướng nhận dạng hộp đen, đa phần các công trình nghiên cứu xoay quanh việc sử dụng mô hình vảo – ra dạng đa thức như ARX, OE hoặc ARMAX (Vasqueza, 2008 [29] và Inoue, 2002 [15]). Ngoài ra, các công trình sử dụng mạng nơron để mô phỏng hoạt động của lò hơi cũng đã được ghi nhận (Irwin, 1995 [16] và Rusinowski , 2007 [28]). Nhìn chung, phương pháp nhận dạng hộp đen tuy mang tính trực tiếp và có thể chính xác nhưng kéo theo đó là sự phức tạp do số lượng các 8 tham số trong mô hình lớn cũng như độ tin cậy bị hạn chế theo điều kiện thực nghiệm. Theo hướng nhận dạng hộp xám, tiêu biểu có thể kể đến công trình của Astrom (2000) [7], trong đó mô tả đặc tính của bao hơi tương đối chính xác sử dụng mô hình phi tuyến.