MỞ ĐẦU Nhôm oxit được biết đến với rất nhiều dạng tồn tại dưới các pha tinh thể khác nhau như γ, θ, χ, δ, α, η,. Các oxit nhôm có nhiều giá trị sử dụng, đặc biệt là trong công nghiệp hoá chất. Yếu tố đóng góp nên giá trị của oxit nhôm là diện tích bề mặt riêng và các tính chất lý, hoá điển hình như độ bền cơ, bền nhiệt và tính chất axit. Do các yếu tố này mà nhôm oxit được sử dụng nhiều làm xúc tác hay chất mang xúc tác trong công nghiệp tổng hợp hữu cơ, công nghệ chế biến dầu mỏ cũng như trong các lĩnh vực hấp phụ và sấy khí.
Oxit nhôm thường được điều chế bằng cách phân huỷ nhiệt nhôm hiđroxit. Quá trình phân huỷ nhiệt cho ta các nhôm oxit dạng thông thường, các tính chất về độ xốp và độ tập trung mao quản cũng như tính chất axit chưa cao. Trong các oxit nhôm nêu trên, γ- Al 2 O 3 là một oxit điển hình hơn cả với các tính chất đặc trưng của nhôm oxit. Do vậy, với mong muốn nâng cao giá trị sử dụng cho các nhôm oxit, mục đích của Luận Văn nhằm điều chế một dạng nhôm oxit có chứa cấu trúc mao quản trung bình, thành mao quản là các tinh thể γ- Al 2 O 3.
Chúng tôi hi vọng rằng, loại vật liệu mới thu được sẽ có diện tích bề mặt riêng lớn hơn, kích thước mao quản tập trung hơn. Kết quả này sẽ nâng cao hơn nữa giá trị sử dụng của γ- Al 2 O 3 trong các lĩnh vực xúc tác và hấp phụ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nhôm Hidroxit Nhôm hiđroxit là một trong những hoá chất quan trọng trong công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất nhôm kim loại tinh khiết, hợp kim nhôm, sản xuất các vật liệu gốm sứ, bột mài, phụ gia cho công nghiệp chất dẻo.
Sự phân loại chi tiết cho thấy trong Hình 1.1 [1]; [2] Nhôm hiđroxit (A) Tinh thể (B) Gelatin (A1) Trihiđroxit (A2) Oxit-Hiđroxit (B1)Không dùng tia-X được.1: Sự phân loại Nhôm hiđroxit. -7- Có hai loại nhôm hiđroxit phổ biến, tồn tại dạng tinh thể: Nhôm Trihiđroxit Al(OH) 3 Nhôm Monohiđroxit AlO(OH). Nhôm Trihiđroxit, Al(OH) 3. Nhôm Trihiđroxit được biết đến với rất nhiều dạng khác nhau nhưng 3 loại thông dụng nhất là Gibbsite, Bayerite và Nordstrandite.
Trong các Trihiđroxit đó, Gibbsite là dạng tồn tại nhiều trong tự nhiên (cùng với các Monohiđroxit nhôm là Boehmite và Diaspore). Cả 3 loại Hiđroxit nay đều có cấu trúc lớp. Mỗi lớp gồm có 2 mặt phẳng chứa đựng các nhóm OH- và những ion Al3+ thuộc lớp nằm giữa hai mặt phẳng đó và 2/3 thể tích của mỗi lỗ trống bát diện được chiếm bởi ion Al3+. Các lớp được liên kết với nhau bằng liên kết hiđro giữa các nhóm hiđroxyl ngay bên cạnh và gần nhất.
Sự khác nhau trong cấu trúc của chúng là do không gian liên kết giữa các lớp. • Gibbsite: Được biết đến nhiều nhất và là chất phổ biến trong tự nhiên, nó tồn tại nhiều trong quặng Bauxite đồng thời là nguyên liệu quan trọng trong việc điều chế nhôm từ bauxite. Gibbsite gồm những tinh thể đơn tà và có cấu trúc lớp, sự sắp xếp liên tiếp giữa các lớp có dạng (AABBAABB…). Khoảng cách giữa hai lớp A (hoặc B) liên tiếp là 0,28 nm; khoảng cách giữa lớp A và lớp B trong lớp kép A-B là 0,20 nm.
Khối lượng riêng d = 2. Các thông số mạng: a =8,54- 8,68; b = 5,06- 6,09; c = 9,21-9,76. Ô mạng cơ sở của Gibbsite gồm 8 ion Al3+ và 24 ion OH- tương ứng với 8 phân tử Al(OH) 3. -8- Ion Al 3+ Ion OH - Hình 1.2: Cấu trúc tinh thể của Gibbsite.3: Mô hình cấu trúc của Gibbsite.4: Mô hình cấu trúc dạng các lớp kép của Gibbsite - 10 - Có nhiều cách khác nhau điều chế Gibbsite: a) Sục CO 2 vào dung dịch natri aluminat, NaAlO 2.
b) Kiềm hoá muối nhôm nitrat, Al(NO) 3. c) Axit hoá dung dịch natri aluminat với pH > 12. • Bayerite: Không tồn tại trong tự nhiên, có thể điều chế theo một số cách khác nhau: a) Thuỷ phân aluminum alkoxides, Al(OR) 3. b) Từ dung dịch muối nhôm với pH > 10 [3].
c) Già hoá keo nhôm hiđroxit [4]. d) Sục CO 2 vào dung dịch natri aluminat với nồng độ lên đến 200g Al 2 O 3 /lít tại nhiệt độ phòng [5]. Bayerite có cấu trúc giống với Gibbsite, chỉ khác nhau về cách phân bố lớp bát diện. Các lớp OH - trong Bayerite được sắp xếp theo trật tự của hệ lục giác (ABABABAB…)[6].
Trên mỗi lớp kép AB, khoảng cách A – B là 0,24nm; giữa hai lớp kép với nhau, khoảng cách B – A là 0,31nm. Trong Bayerite, 2/3 thể tích của bát diện do cation Al3+ chiếm giữ, còn lại là 1/3 ô trống [7]. Khối lượng riêng của Bayerite, d = 2,48-2,53 g/cm3, lớn hơn một chút so với của Gibbsite, do khoảng cách giữa các lớp trong Bayerite nhỏ hơn [8]. Các thông số mạng trong Bayerite: a = 5,01 - 5,06; b =8,50 - 8,67; c = 4,73 – 4,76; β = 90o16’.5: Cấu tạo mạng tinh thể Bayerite.6: Mô hình cấu trúc lớp của Bayerite - 12 - • Nordstrandite: Cấu trúc của Nordstrandite và Bayerite đều được khám phá bởi [9, 10], được so sánh với cấu trúc dạng tinh thể đơn tà và tam tà của Gibbsite khám phá ra trước đó [11].
Mạng tinh thể Nordstrandite xây dựng bởi các lớp bát diện Al(OH)3 trung hoà điện và giống nhau, tạo nên từ cấu trúc cơ bản của Gibbsite và Bayerite [12]. Chu kỳ mạng tinh thể lên đến 1,91nm. Giá trị này tương đương với tổng khoảng cách của các lớp riêng biệt trong Bayerite và Gibbsite. Cấu trúc đặc biệt của Nordstrandite bao gồm sự luân chuyển lẫn nhau giữa các lớp kép, trong đó OH- bát diện được sắp xếp một lần trong các gói của Bayerite, tiếp theo đó là trong các gói của Gibbsite [13].
Nordstrandite thuộc hệ tinh thể tam tà: α = 90o 16’,β = 97o40’, γ = 88o20’. Nhôm Monohiđroxit, AlO(OH). Có 2 loại oxit-hiđroxit nhôm AlO(OH) được biết đến với cấu trúc tương tự nhau, đó là Boehmite và Diaspore. Chúng phổ biến trong tự nhiên cùng với Gibbsite dưới dạng quặng Bauxite.
Dưới áp suất hơi nước bão hoà, tinh thể Al(OH) 3 được chuyển thành AlO(OH) tại nhiệt độ 375K. Nhiệt độ chuyển đổi này giống nhau đối với cả ba loại nhôm trihiđroxit Al(OH)3. Tại nhiệt độ thấp hơn 575K, sự tạo thành Boehmite chiếm ưu thế hơn, trừ khi có hạt Diaspore xuất hiện trong hệ. Sự tạo hạt tự phát của Diaspore yêu cầu nhiệt độ lớn hơn 575K và áp suất cao hơn 20MPa.
Vì vậy, trước đây Diaspore được coi là một dạng AlO(OH) tồn tại ở nhiệt độ cao. Diaspore là một dạng chuyển hoá bền của AlO(OH) còn Boehmite là dạng giả bền, mặc dù thuận lợi hơn về mặt động học (cả về áp suất và nhiệt độ). Boehmite: Là một trong những vật liệu mang lại nhiều thú vị cho các khoa học về diện tích bề mặt. Nó được chỉ ra bởi Lippens và Steggerda (1970) rằng có sự khác biệt rõ ràng giữa dạng Boehmite (Boehmite tinh thể) và dạng - 13 - giả Boehmite (hay Boehmite gelatine - chất luôn chứa một lượng nước không xác định, liên kết giữa các lớp với nhau).
Giả Boehmite là thành phần chính trong Bauxite ở Châu Âu và từ nó dễ dàng điều chế được các muối nhôm trung hoà, nhưng để tạo thành Boehmite tinh thể cần phải xử lý thuỷ nhiệt trong giai đoạn tiếp theo. Giả Boehmite được tạo thành trong quá trình già hoá gelatine vô định hình (loại B1 trong Hình 1. Tinh thể Boehmite bao gồm các lớp đôi O, OH dạng gợn sóng trong đó các anion gói ghém chắc khít dạng lập phương. Các ion nhôm nằm trong trạng thái phối trí bát diện, nằm ở tâm hình bát diện.
Mỗi ion nhôm được bao bọc bởi 4 ion oxy và 2 ion nhóm OH-. Theo hướng trục x, các hình bát diện nối với nhau bằng các cạnh, theo hướng trục z, chúng nối với nhau bằng các đỉnh bát diện. Các lớp này được tạo nên bởi các mạch [AlO(OH)] 2 trải rộng theo chiều vuông góc với trục a [14]. Các lớp đôi này liên kết với nhau bằng các liên kết hiđrô của các ion OH- giữa các mặt phẳng liên tiếp nhau.
Các tinh thể Boehmite cho thấy sự tách lớp song song so với mặt phẳng (010). Mỗi tế bào cơ sở được tạo thành từ 4 phân tử AlO(OH) với các thông số mạng cơ sở: a = 2,87; b = 12,23; c = 3,7Ao. Khoảng cách dO-O = 0,27nm; d O-Al = 0,19nm. Tỷ trọng d = 3,01 g/cm3 [3].
Có thể mô hình hoá cấu trúc của Boehmite theo Vanosterhou như sau: Theo hướng trục x có mạch HO – Al – O. Hai trong số các mạch này phân bố đối song song với nhau, mạch thu được có dạng polyme.7: Mô hình ô mạng cơ sở của Boehmite. Dạng mạch polime của Bayerite.8: Mô hình cấu trúc mạng tinh thể của Boehmite. - 15 - Diaspore: Xuất hiện trong một vài loại đất sét và quặng Bauxite.
Nó được điều chế bằng cách xử lý thuỷ nhiệt Corundum, α -Al 2 O 3. Trong khi Boehmite được đặc trưng bởi sự gói ghém đặc khít của các ion dạng lập phương (Cubic) thì diaspore lại có cấu trúc gói ghém chắc đặc dạng lục phương (Hexagonal). Sự khác nhau này có lẽ đã giải thích cho sự chuyển pha nhiệt trực tiếp của Diaspore thành Corunđum tại nhiệt độ tương đối thấp hơn so với Boehmite.9: Mô hình sự phân bố nguyên tử trong Diaspore (mặt 001) .10: Mô hình phân bố các nguyên tử trong Diaspore (mặt 100). Nhôm oxit a) Lớp nhôm bát diện.
b) Lớp nhôm bát diện và tứ diện. Cấu trúc nhôm bát diện và tứ diện. Những pha Al 2O 3 ít bền hơn là pha có độ xốp cao hơn (thuộc loại γ ), hoạt tính mạnh hơn và không tồn tại trong tự nhiên. Nó được điều chế bằng cách phân huỷ nhiệt Al(OH) 3 hay AlO(OH) tại nhiệt độ trung bình và trải qua quá trình thay đổi bất thuận nghịch thành α - Al2 O3 ở nhiệt độ cao.
Diện tích bề mặt của chúng có thể lên đến 300 – 400 m2/g nên được sử dụng nhiều trong lĩnh vực xúc tác và hấp phụ. Do có diện tích bề mặt lớn và độ bền nhiệt đặc biệt cao của chúng, nhất là hai dạng oxit γ và η - Al 2O 3 nên chúng được sử dụng nhiều làm chất mang xúc tác. Tuy nhiên việc điều chế dạng η phức tạp hơn dạng γ. Nhiều ý kiến đã được đưa ra cho sự phân loại các cấu trúc khác nhau của Al 2 O 3 (Lippens và Steggerda, 1970).