Chương 1. Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến Dựa vào định nghĩa trên, một tải/nguồn ba pha không cân bằng có thể được mô tả bởi hai thông số là Unbal_N% (tỷ lệ không cân bằng thứ tự ng- ược) và Unbal_0% (tỷ lệ không cân bằng thứ tự không). Chúng được xác định theo hai biểu thức (1.6) TPTTpositive TPTTzero UnBal_0% = .7) TPTT positive Trong đó: TPTTpositive , TPTTnegative , TPTTzero là các thành phần thứ tự thuận, thứ tự ngược và thứ tự không của ba pha.2 cho thấy những kết quả áp dụng hai tỉ lệ không cân bằng này để mô tả bốn trường hợp không cân bằng của tải liệt kê trong bảng 1. Các tỉ lệ không cân bằng Unbal_N% và Unbal_0% của ba pha có thể thay đổi ứng với những hệ số công suất khác nhau [TL14].
Tải không cân bằng và các hệ số không cân bằng Trường hợp Unbal_N% Unbal_0% 1) |ILA |= Im; ILB = ILC = 0 100% 100% 2) |ILA |=|ILB |=|ILC|= Im cosφA = 1; cosφB = 0,8; cosφC 32,3% 47,7% =–0,8 3) |ILA |=|ILB |=|2ILC |= Im cosφA = –0,8; cosφB = cosφC = 35% 72,7% 0,8 4) |ILA |=|ILB |= Im ; IC = 0 15% 115% cosφA = –0,8; cosφB = 0,8 8 Chương 1. Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến Hình 1. Phân tích tải/nguồn không cân bằng thành ba thành phần riêng biệt: Thứ tự thuận, thứ tự ngược và thứ tự không Tóm lại, một tải/nguồn không cân bằng có thể được phân tích thành ba thành phần: thứ tự thuận, thứ tự ngược và thứ tự không. Kết luận này được minh họa bằng hình vẽ trên [TL14].
Ảnh hưởng của tải/nguồn không cân bằng Cả tải/nguồn ba pha đều có hai cách nối dây: nối dây hình Δ (ba dây) và nối dây hình Y (bốn dây). Như vậy, ta có 22 = 4 khả năng để nối giữa nguồn và tải theo một trong bốn sơ đồ: ∆–∆, ∆–Y, Y–∆ và Y–Y. Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến ZAB ZCA Z BC a) S¬ ®å Δ−Δ Vca Zab ZA Z ca Vab ZB ZC Vbc Zbc B B + - C C b) S¬ ®å Δ−Y A A Za VaG + - VcG Zb Zc VbG B B C C G S¬ ®å Y- 10 Chương 1. Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến S¬ ®å Y-Y Hình 1.
Bốn khả năng có thể nối giữa nguồn và tải Trong sơ đồ nối Δ–Δ, cả nguồn và tải đều có điểm trung tính trôi. Khi tải không cân bằng, các dòng pha sẽ không cân bằng. Qua trở kháng của nguồn, các dòng pha không cân bằng sẽ lần lượt làm điện áp đầu ra mất cân. Ảnh hưởng của tải không cân bằng trong trường hợp này được biểu diễn bằng một dòng thứ tự ngược từ nguồn đến tải.
Như vậy, tồn tại một dòng rò sẽ chạy quẩn giữa nguồn và tải với tần số bằng hai lần tần số nguồn [TL6]. Khi điểm trung tính được nối đất, điện áp của điểm trung tính sẽ thay đổi theo sự mất cân bằng của tải. Đặc điểm này có thể gây ra hiện tượng lệch điện áp trung tính giữa nguồn – tải và điều này gây ra rất nhiều vấn đề phức tạp trong hệ thống. Trong sơ đồ nối Δ–Y, chế độ làm việc tương tự như sơ đồ nối Δ–Δ, ngoại trừ việc có một điểm trung tính tải rõ ràng, hoạt động tải có thể bị sự cố do sự thay đổi của điện áp điểm trung tính.
Trường hợp này không có dòng thứ tự không trong tải, tuy nhiên dòng thứ tự không có thể tồn tại trong nguồn và gây ra một số ảnh hưởng xấu đến hoạt động của hệ thống [TL6]. Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến Trong sơ đồ nối Y–Δ tương tự như sơ đồ nối Δ–Δ, trừ việc không có dòng thứ tự không trong nguồn, tuy nhiên dòng thứ tự không có thể tồn tại trong tải [TL6]. Trong sơ đồ nối Y–Y, điểm trung tính của nguồn và điểm trung tính của tải là bị ràng buộc với nhau. Như vậy, không phải là duy nhất dòng thứ tự ngược chạy quẩn giữa nguồn và tải với tần số gấp hai lần tần số nguồn chạy qua các điểm nối A, B và C, mà còn có thêm dòng thứ tự không chạy quẩn giữa nguồn và tải chạy qua điểm nối trung tính G [TL6].
Tải phi tuyến 1. Khái niệm tải phi tuyến Trong hệ thống điện tử công suất, những tải tuyến tính ví dụ như điện trở, cuộn cảm, tụ điện. và những tải phi tuyến ví dụ như điôt chỉnh lưu, thyristor, lò hồ quang,. Một tải tuyến tính có thể được định nghĩa theo một biểu thức tuyến tính giữa điện áp trên tải và dòng qua tải hoặc đạo hàm của chúng.
Mặc dù không có một biểu thức toán học rõ ràng mô tả tải phi tuyến, tuy nhiên chúng có thể được mô tả như "một tải mà đặc tính dòng không sin khi nó được cung cấp một nguồn điện áp hình sin". Do đó, cho một nguồn điện áp ba pha như sau [TL16]: ⎡ ⎤ ⎢ sin(ω t) ⎥ ⎡V AG ⎤ ⎢ ⎥ ⎢V ⎥ = V .8) ⎢ BG ⎥ ln_ pk ⎢ ⎝ 3 ⎠⎥ ⎢⎣VCG ⎥⎦ ⎢ 2 ⎥ ⎢sin⎛⎜ ω t + π ⎞⎟ ⎥ ⎣⎢ ⎝ 3 ⎠ ⎦⎥ Trong đó: Vln_pk là biên độ điện áp. Ba dòng của ba pha chạy qua tải phi tuyến có thể được biểu diễn gần đúng như sau [TL16]: 12 Chương 1. Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến ⎡ ∞ ⎤ ⎢ I1.
sin⎛⎜ ω t + ϕ1 + 2 π ⎞⎟ + ∑ I2 k ±1 sin (2 k ±1)ω t +ϕ2 k ±1 _ C ⎥ ( ) ⎢⎣ ⎝ 3 ⎠ k =2 ⎥⎦ Trong trường hợp lý tưởng, biểu thức (1.9) sẽ không chứa thành phần sóng điều hòa bậc chẵn, như thế tải phi tuyến có thể được biểu diễn theo những biên độ của sóng điều hòa bậc lẻ và tổng độ méo điều hòa [TL16]: ∞ ∑ I 22k ±1 k=2 TDH = (1.10) I1 Một cách khác để mô tả đặc tính của tải phi tuyến là sử dụng hệ số đỉnh Kc. Trong đó: Kc là tỉ lệ về độ lớn giữa giá trị cực đại và giá trị hiệu dụng. Rõ ràng tải tuyến tính có Kc = 2. Nếu Kc ≠ 2 thì tải là phi tuyến.
Ví dụ chỉnh lưu điôt có hệ số K c nằm trong khoảng (1,5÷3), phụ thuộc vào bộ lọc một chiều. Ảnh hưởng của tải phi tuyến Để xét ảnh hưởng của những tải phi tuyến phổ biến và điển hình, ta sẽ phân tích một số sơ đồ chỉnh lưu điôt như sau: sơ đồ chỉnh lưu điôt ba pha không có lọc một chiều, chỉnh lưu điôt ba pha có tụ lọc một chiều, chỉnh lưu ba pha có bộ lọc L/C một chiều và sơ đồ ba chỉnh lưu điôt một pha. Đây là những sơ đồ đơn giản, rẻ tiền và là những ví dụ điển hình cho bộ biến đổi xoay chiều/một chiều truyền thống và phổ biến hiện nay. Những tải phi tuyến khác, ví dụ như bộ chỉnh lưu thyristor có thể gây ra những dòng cao tần lớn, như thế tải phi tuyến gây ra ảnh hưởng thậm chí còn 13 Chương 1.
Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến xấu hơn. Tuy nhiên, chỉnh lưu thyristor là bán điều khiển, dạng sóng của nó sẽ phụ thuộc vào những yêu cầu điều chỉnh, do đó việc phân tích đòi hỏi sẽ phức tạp hơn. Vì vậy, luận văn này không đề cập nhiều đến chỉnh lưu thyristor. Một lý do quan trọng nữa để ta không phân tích bộ chỉnh lưu thyristor (tải phi tuyến phức tạp) là vì những phân tích các sơ đồ chỉnh lưu điôt (tải phi tuyến đơn giản) liệt kê ở trên cũng đủ để chỉ ra những ảnh hưởng điển hình và phổ biến của tải phi tuyến tác động lên hệ thống.
Trường hợp 1: Chỉnh lưu điôt ba pha không có bộ lọc một chiều Xét tải phi tuyến là sơ đồ chỉnh lưu điôt cầu ba pha không có bộ lọc một chiều (hình 1. Sơ đồ và dòng pha A của chỉnh lưu điôt ba pha không có bộ lọc một chiều 14 Chương 1. Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến Từ hình 1.3, ta thấy dòng điện pha A bị méo với hai đường lõm ở đỉnh. Trong trường hợp này, hệ số đỉnh K c xấp xỉ bằng 1,28 (nhỏ hơn trong trường hợp tải tuyến tính) và THD bằng 30%.
Trường hợp 2: Chỉnh lưu điôt ba pha có tụ lọc một chiều C Xét tải phi tuyến là bộ chỉnh lưu điôt cầu ba pha có tụ lọc một chiều C (hình 1. Trong trường hợp này, THD dòng bằng 69% và hệ số đỉnh Kc = 1,86 (lớn hơn trong trường hợp tải tuyến tính). Sơ đồ và dòng pha A của chỉnh lưu điôt ba pha có tụ lọc một chiều 15 Chương 1. Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến Trường hợp 3: Chỉnh lưu điôt ba pha với bộ lọc L/C một chiều Xét tải phi tuyến là sơ đồ chỉnh lưu điôt cầu ba pha có bộ lọc L/C một chiều (hình 1.
Vì cuộn cảm là tương đối lớn nên dòng có dạng sóng vuông. Dòng điện có thể được san cho phẳng bằng tụ lọc. Kết quả là khi THD < 29% và hệ số đỉnh Kc <1,22 thì dạng sóng trường hợp 3 tương tự như trong trường hợp 1. Sơ đồ và dòng pha A của chỉnh lưu điôt ba pha với bộ lọc L/C một chiều 16 Chương 1.
Tải/nguồn không cân bằng và tải phi tuyến Trường hợp 4: Ba chỉnh lưu điôt một pha có tụ lọc một chiều C Xét tải phi tuyến là sơ đồ ba chỉnh lưu điôt một pha (hình 1. Dạng dòng điện của nó như trong hình 1. Dải tần số được thể hiện trong hình 1.7b, có thể thấy hệ số đỉnh Kc bằng 2,23, lớn hơn nhiều so với trường hợp một tải tuyến tính (Kc = 2 ). THD dòng pha bằng 65%.
Mặc dù ba pha có tải như nhau và dòng qua mỗi pha có dạng sóng như nhau, nhưng thực tế có rất nhiều sóng hài bậc cao của ba dòng qua dây trung tính. Trong trường hợp này, giá trị hiệu dụng của dòng trung tính bằng 1,7 lần giá trị hiệu dụng của dòng pha. Giả sử rằng tải phi tuyến trên ba pha giống hệt nhau [TL16] thì: – Sóng hài bậc 3k là thành phần sóng thứ tự không, trong đó: k = {1,3,5,…}, ví dụ bậc 3, bậc 9, bậc 15,… – Sóng hài bậc 3k+1 là thành phần sóng thứ tự thuận, trong đó: k = {2,4,6,…}, ví dụ bậc 7, bậc 13, 19,… – Sóng hài bậc 3k+2 là thành phần sóng thứ tự ngược, trong đó: k = {1,3,5,…}, ví dụ bậc 5, bậc 11, 17,… Sự so sánh của ảnh hưởng của những sóng hài chính đối với thành phần sóng cơ bản trong bốn trường hợp như bảng 1.