ĐẶT VẤN ĐỀ Họ Ngọc lan (Magnoliaceae) là một trong những nhóm thực vật có hoa sớm nhất và đóng vai trò then chốt trong việc hình thành các khái niệm về hoa trong ngành thực vật Hạt kín. Họ có khoảng trên 300 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và ôn đới. Họ được đặc trưng bởi các đặc điểm nguyên thủy như bao hoa chưa phân hóa hay phân hóa chưa rõ ràng, số lượng nhiều và rời, nhị và nhụy hoa nhiều, rời và sắp xếp thành hình xoắn ốc trên đế hoa hình nón thuôn dài. Các loài trong họ Ngọc lan có dạng thân gỗ hoặc bụi, thường xanh, có tán lá đẹp, hoa có kích cỡ lớn, đa dạng về màu sắc, hương rất thơm, gỗ thơm và mịn, hạt nhiều loài có thể dùng làm gia vị và làm thuốc.
Với những tính chất quan trọng trên, họ Ngọc lan đã và đang được nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau như hình thái, tế bào, cổ sinh vật, phân tử, hệ thống, cảnh quan… quan tâm nghiên cứu (Vũ Quang Nam, 2011). Tại Việt Nam, họ Ngọc lan có 10 chi và khoảng 50 loài. Đa số loài trong họ đều phân bố ở vùng núi cao miền Bắc Việt Nam. Nhiều loài trong họ cho gỗ mềm mại, vân gỗ đẹp, có hương thơm, ít bị mối mọt, được ưa chuộng trong xây dựng hoặc đóng các đồ gia dụng cao cấp.
Một số loài còn cho hạt làm gia vị hoặc được trồng làm cây cảnh, trồng rừng cung cấp gỗ và cải tạo môi trường. Do giá trị sử dụng cao nhiều loài trong họ Ngọc lan hiện nay đã và đang bị khai thác ráo riết có nguy cơ cạn kiệt hoặc tuyệt chủng tại Việt Nam. Trong Sách Đỏ Việt Nam phần thực vật, 2007, đã ghi nhận 8 loài thuộc họ Ngọc lan có nguy cơ bị đe dọa, cần được quan tâm quản lý, bảo tồn. Giổi lụa (Tsoongiodendron odorum Chun) là cây gỗ lớn, cho gỗ tốt dùng trong xây dựng và đóng đồ.
Hoa rất thơm, có thể dùng ướp chè hoặc cất lấy nước hoa. Cây có dáng đẹp, có thể trồng làm cây bóng mát hoặc làm cảnh. Loài có phân bố khu vực Nam Trung Quốc, Đông Bắc Lào, Bắc và Tây Bắc Việt Nam. Tại Việt Nam loài phân bố rải rác tại các khu vực: Yên Bái (Chiềng Ken, Chiềng Lang), Lạng Sơn (Bắc Sơn), Quảng Ninh Hà Nam, Ninh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Bình, Nghệ An (Bù Kẹp, Quỳ Châu, Quỳ Hợp), Hà Tĩnh.
Loài hiện nay đang có nguy cơ bị đe dọa tại Việt Nam cũng như của thế giới: Sách Đỏ Việt Nam, 2007 và Danh lục Đỏ của IUCN đã xếp loài thuộc nhóm Sẽ nguy cấp (VU). Qua kết quả điều tra sơ bộ năm 2018 tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, chúng tôi đã phát hiện một số quần thể Giổi lụa trưởng thành có phân bố tự nhiên tại đây. Tuy nhiên hiện nay các chương trình, đề tài nghiên cứu để xây dựng giải pháp bảo tồn loài Giổi lụa tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, cũng như tại Việt Nam là chưa có. Do tính cấp thiết cần xây dựng giải pháp bảo tồn loài, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài Giổi lụa (Tsoongiodendron odorum Chun) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An".Với hy vọng kết quả của đề tài sẽ góp phần bảo tồn và phát triển loài Giổi lụa, một loài cây gỗ có giá trị cao đang bị đe dọa tại Việt Nam.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới Đa dạng sinh học (ĐDSH) trên phạm vi toàn thế giới đã và đang suy giảm một cách nhanh chóng. Trước tình hình đó thế giới có nhiều nỗ lực nhằm hạn chế sự suy giảm đó, cụ thể là có nhiều công ước liên quan đến bảo vệ ĐDSH đã ra đời như Công ước RAMSAR, Iran (1971), Công ước CITES (1972), Công ước Paris (1972), Công ước bảo vệ các loài động vật hoang dã di cư, Born (1979). Song song với việc xây dựng các công ước bảo vệ ĐDSH, các công trình nghiên cứu khoa học về ĐDSH cũng được công bố.
Số loài bình quân trong rừng ôn đới khoảng 21- 48 loài. Sự đa dạng về loài của rừng mưa nhiệt đới được diễn đạt bằng công thức Shannon-Weaver (1971) như là một thông số so sánh mật độ tham gia của mỗi loài với H = 6,0 (cực đại có thể 6,2 = 97%) lớn gấp 10 lần so với rừng lá rộng ôn đới (0,6). Thông số này giảm dần từ vùng nhiệt đới đến hai cực và phụ thuộc vào các lục địa khác nhau. Theo lý thuyết ốc đảo của Mac Arthur-Wilson (1971) thì số lượng loài tương tự bằng căn bậc bốn của diện tích ốc đảo.
Ngược lại, diện tích bị thu hẹp lại có nghĩa là một số loài tương ứng sẽ bị tiêu diệt hoặc phải đấu tranh để tồn tại (Wilson, 1992). Danh sách các loài sinh vật có tên trong sách đỏ ngày càng tăng lên, có nghĩa là các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ngày càng nhiều mà nguyên nhân không có gì khác hơn là các hoạt động sống của con người. Khi so sánh các dạng sử dụng đất khác nhau (chẳng hạn nông nghiệp, du lịch, giao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.) thì lâm nghiệp đứng hàng thứ 2 sau nông nghiệpnhư là nguyên nhân của việc suy giảm, trong khi cách đây một phần tư thế kỷ (1981) còn xếp ở vị trí thứ 6 (sau nông nghiệp, du lịch, khai thác vật liệu, đô thị hoá và thuỷ lợi). Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH.Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh.Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật.Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau: Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation): Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên.
Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp. Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation): Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúngchúng.Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống… Phục hồi (Rehabilitation): Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ.
Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái. Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có. Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc bảo tồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH. Ngoài việc xây dựng các KBT cũng cần thiết phải giữ gìn các thành phần của sinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực mà con người đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, và bảo vệ các khu vực được xây dựng để thực hiện chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH.
Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Việt Nam nằm ở Đông Nam bán đảo Đông Dương có phần đất liền rộng khoảng 330.000 km2, với bờ biển dài khoảng 3200 km, phần nội thuỷ và lãnh hải gần với bờ biển rộng khoảng hơn 22. Ba phần tư diện tích của cả nước là đồi núi với đỉnh núi cao nhất là Phan Xi Păng 3143m ở phía Tây Bắc. Nơi đây các dãy núi cao được hình thành do sự kéo dài của dãy núi Hymalaya. Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ nhưng hệ thực vật nước ta vô cùng phong phú và đa dạng về chủng loại… Điều đặc biệt là hệ thực vật nước ta giàu những loài cây gỗ, cây bụi, dây leo gỗ…và rất nhiều đại diện cổ tồn tại từ kỷ đệ tam.
Theo dự đoán của các nhà thực vật học (Takhtajan, Phạm Hoàng Hộ, Phan Kế Lộc) số loài ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 2.300 loài được sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, lấy tinh dầu, dầu béo và nhiều loại nguyên liệu khác (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997), mặt khác hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao. Tuy rằng hệ thực vật Việt Nam không có các họ đặc hữu mà chỉ có các chi đặc hữu chiếm khoảng 3% nhưng số loài đặc hữu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chiếm đến khoảng 20%, tập trung ở 4 khu vực chính: núi Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh, cao nguyên Lâm Viên và khu vực rừng ẩm Bắc Trung Bộ. ĐDSH của Việt Nam là sự khác biệt của tất cả các dạng sống hiện hữu trên mọi miền của đất nước. ĐDSH không tĩnh tại mà thường xuyên thay đổi, nó tăng lên do sự biến đổi về gen và các quá trình tiến hóa và giảm bởi các quá trình như suy thoái và mất sinh cảnh, suy giảm quần thể và tuyệt chủng.
Năm 1992, Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới đã xác định Việt Nam là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất trên thế giới. Việt Nam được công nhận là một trung tâm đặc hữu về loài, 3 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định và 6 trung tâm đa dạng về thực vật do IUCN xác định.