mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Các nhà sinh vật học Nga tập trung nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Năm 1990, WWF đã xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity). Năm 1991, Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn “Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới” (Conserving the World’ biological diversity).
Năm 1992 – 1995, WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới, đó là cuốn “Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu” (Global biodiversity assessment). Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Năm 2010 là năm được Liên hiệp quốc đã lựa chọn là năm quốc tế đa dạng sinh học. Lần đầu tiên trong lịch sử, Đại hội đồng Liên hiệp quốc, phiên họp lần thứ 65 tổ chức một cuộc họp cấp cao về đa dạng sinh học với sự tham gia của các nguyên thủ quốc gia và chính phủ.
Ngoài ra, trong cuộc họp các bên tham gia Công ước lần thứ 10, tại thành phố Nagoya, tỉnh Aichia, Nhật Bản, các nước thành viên đã xây dựng chiến lược mới đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 về đa dạng sinh học; tiếp theo đó ngày 19/12/2011, tại thành phố Kanazawa của Nhật Bản, Liên hợp quốc đã phát động Thập kỷ đa dạng sinh học. Bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng địa phương Sau nhiều thập kỷ, rừng trên thế giới bị xâm hại dẫn đến diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng bị giảm sút, cộng đồng thế giới đã có nhiều biện pháp bảo tồn và công tác bảo tồn đã trở thành bức thiết, những quy định về mặt pháp lý ngày càng hoàn thiện, công tác đầu tư phương tiện, thiết bị, con người được quan tâm. Măc dù đã rất cố gắng nhưng tình trạng phá rừng có chiều hướng gia tăng. Hầu hết các quốc gia ASEAN đang có các chính sách để phân cấp, phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng.
Họ đã thử nghiệm khá thành công cách tiếp cận có sự tham gia của người dân, chú ý đến tiến trình phát huy kiến thức bản địa, nâng cao năng lực của các cộng đồng thiểu số để xây dựng và thực hiện thành công các mô hình quản lý rừng cộng đồng. Ở Philippines, Denr và cộng sự (1994) trong chiến lược Quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ rằng: "Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học" (Lê Sỹ Trung, 2005). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ở Indonesia,Bappenas (1993) trong kế hoạch hành động đa dạng sinh học ghi nhận rằng "Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch(Lê Sỹ Trung, 2005). Ở Thái Lan, Bink Man W.
(1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S. Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng. Tuy nhiên đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996). Cũng tại Thái Lan, trong báo cáo “liên minh cộng đồng: Đồng quản lý rừng ở Thái Lan” của Poffenberger, M.
và McGean, B (1993) đã có những nghiên cứu điểm tại VQG DangYai nằm ở Đông bắc khu vực phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan. Tại DangYai, cùng với sự phối hợp với cục kiểm lâm Hoàng gia người dân đã rất thành công trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn và xây dựng các hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái đồng thời phục vụ lợi ích của họ trong khu vực. Tại Nam Sa, cộng đồng người dân đã chứng minh được khả năng trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát tài nguyên rừng nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực (Nguyễn Thị Phương 2003)[23].
Ở Trung Quốc: kinh doanh lâm nghiệp dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần: Phát triển nhiều ngành kinh tế lâm sản chế biến lâm sản nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng kết hợp coi trọng các mặt môi trường sinh thái và xã hội. Từ 1981, Trung Quốc đã tiến hành giao đất giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân bên cạnh đó ban hành nhiều luật chính sách kinh tế để tạo điều kiện tới việc lưu truyền và trao đổi quyền sử dụng tài nguyên rừng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ở Ấn Độ, trong tác phẩm “Những lùm cây thiêng miền tây dãy Ghats ở Ấn Độ” của Gadgil và VP. Vartok năm 1976 cho rằng: Các đám rừng từ dưới 0,5ha đến 10ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây đã được người dân địa phương ở Ấn Độ bảo vệ, người dân không được phép lấy bất kỳ sản phẩm nào ở đây.
Những lùm cây đó đã trở thành di sản trong rừng tự nhiên dù nạn phá rừng ngày càng tăng và trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô… mặc dù đã bị cấm nhưng đôi khi người dân vẫn vào rừng để khai thác gỗ trộm (Ngô Ngọc Tuyên, 2007). Như vậy có thể nói, ở châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả. Lý do để khuyến khích sự tham gia này là nỗ lực của cơ quan Chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các VQG đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này.
Các nghiên cứu về khu hệ thực vật Ngay từ đầu thế kỷ 18, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật.Trước hết phải kể đến các công trình “Thực vật chí Nam bộ” của Leureiro (1970). Đến thế kỷ 19 có công trình “Thực vật chí rừng Nam bộ” của tác giả Pierre L. Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu thập mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, con số kiểm kê và được đưa ra là 7.004 loài thực vật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 bậc cao có mạch. Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn đối với các nhà thực vật học.
Hiện nay, bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Trên cơ sở bộ “Thực vật chí Đông Dương”, Thái Văn Trừng (1978, tái bản năm 2000)[27] đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.850 chi và 289 họ. Trong đó, ngành Hạt kín có 3. Ngành Dương xỉ và họ hàng Dương xỉ có 599 loài (chiếm 8,6%), 205 chi (chiếm 5,57%) và 42 họ (chiếm 14,5%).
Ngành Hạt trần có 39 loài (chiếm 0,5%), 18 chi (chiếm 0,9%) và 8 họ (chiếm 2,8%). Gần đây, đáng chú ý phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993)[11] xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 – 2000); hay bộ sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” (2001 – 2005). Đây là những bộ sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) hệ thực vật Việt Nam hiện đã thống kê được 11.524 chi, 378 họ của 7 ngành thực vật (bảng 1.1: Thành phần loài trong các ngành thực vật Việt Nam Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Chi Loài 1. Khuyết lá thông Psilotophyta 1 1 2 3.
Thông đất Lycopodiophyta 3 5 57 4. Cỏ tháp bút Equisetophyta 1 1 2 5. Dương xỉ Polypodiophyta 25 137 669 6. Hạt trần Gymnospermae 8 23 63 7.
Hạt kín Angiospermae 299 2175 9787 Tổng 378 2524 11.373 Tỉ lệ % đặc hữu 0% 3% 20% Nguồn: (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Phương pháp nghiên cứu chính về thành phần loài thực vật được các tác giả sử dụng từ trước đến nay bao gồm: Phương pháp điều tra theo tuyến, phương pháp ô tiêu chuẩn điển hình. Trong nghiên cứu này, đề tài sẽ sử dụng kết hợp cả hai phương pháp để xác định thành phần loài thực vật tại khu vực nghiên cứu. Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam. Các lĩnh vực nghiên cứu chính về đa dạng thực vật bao gồm: Phân loại thực vật, dạng sống, quan hệ địa lý và thành phần loài.
Nhìn chung, các công trình này có giá trị khoa học cao và được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thực vật cho đến thời điểm hiện tại. Cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn nữa để cung cấp đầy đủ thông tin cho hệ thực vật tại Việt Nam 1. Công tác bảo tồn thực vật rừng Việt Nam Về bảo tồn thực vật rừng quý hiếm, Chính phủ Việt Nam đã có những giải pháp nhằm bảo vệ rừng, bảo vệ giá trị đa dạng sinh học. Một trong những giải pháp quan trọng là việc thành lập hệ thống các khu rừng đặc dụng trên phạm vi toàn quốc.
Ngày 08/9/1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Chỉ thị số 194-CT về việc thành lập hệ thống rừng đặc dụng với 73 khu, và được chia làm 3 loại: Vườn quốc gia (VQG), Khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên và Khu rừng văn hoá lịch sử và môi trường.