Chương 1: Tổng quan về hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quản lý đất ngập nƣớc Chương 2: Ứng dụng tƣ liệu viễn thám trong hiện chỉnh bản đồ Chương 3: Hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất, thành lập bản đồ biến động sử dụng đất phục vụ quản lý đất ngập nƣớc thị xã Quảng Yên - Tỉnh Quảng Ninh với sự trợ giúp của viễn thám và GIS 13 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆN CHỈNH BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NGẬP NƢỚC 1. Khái quát về đất ngập nƣớc 1. Định nghĩa đất ngập nước Thuật ngữ “Đất ngập nƣớc (ĐNN)” đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo quan điểm, ngƣời ta có thể chấp nhận các định nghĩa khác nhau. Hiện nay có khoảng 50 định nghĩa về ĐNN đang đƣợc sử dụng (theo Dugan, năm 1990).
Các định nghĩa về ĐNN có thể chia thành hai nhóm chính. Một nhóm theo định nghĩa rộng, nhóm thứ hai theo định nghĩa hẹp. Các định nghĩa về ĐNN theo định nghĩa rộng nhƣ định nghĩ của Công ƣớc Ramsar, định nghĩa theo các chƣơng trình điều tra ĐNN của Mỹ, Canada, New Zealand và Ôxtrâylia. Theo công ƣớc Ramsar (năm 1971), ĐNN đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Theo công ƣớc RamSar (Điều 1.1), các vùng ĐNN đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Các vùng đầm lầy, đầm lầy đất trũng, vùng đất than bùn hoặc nƣớc, tự nhiên hay nhân tạo, thƣờng xuyên hay tạm thời, có nƣớc đứng hay chảy, nƣớc ngọt, lợ hay mặn, kể cả những vùng nƣớc biển với độ sâu ở mức triều thấp, không quá 6m”.
Ngoài ra, Công ƣớc (Điều 2.1) còn quy định các vùng đất ngập nƣớc: “Có thể bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nƣớc, cũng nhƣ các đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nƣớc”. - Theo chƣơng trình quốc gia về điều tra ĐNN của Mỹ: “Về vị trí phân bố, đất ngập nƣớc là những vùng đất chuyển tiếp giữa những hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực. Những nơi này mực nƣớc ngầm thƣờng nằm sát mặt đất hoặc thƣờng xuyên đƣợc bao phủ bởi lớp nƣớc nông”. Đất ngập nƣớc phải có ba thuộc tính sau (theo Cowardin và cộng sự, năm 1979): + Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.
+ Nền đất hầu nhƣ không bị khô. + Nền đất không có cấu trúc không rõ rệt hoặc bão hòa nƣớc, bị ngập nƣớc ở mức cạn tại một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trƣởng hàng năm. - Theo các nhà khoa học Canađa: “Đất ngập nƣớc là đất bão hòa nƣớc trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh. Đó là những nơi khó tiêu hóa nƣớc, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trƣờng ẩm ƣớc”.
- Theo các nhà khoa học New Zealand: “Đất ngập nƣớc là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ƣớc từng thời kỳ hoặc thƣờng xuyên. Những vùng ngập nƣớc ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất nƣớc. Nƣớc có thể là 14 nƣớc ngọt, nƣớc mặn hoặt nƣớc lợ. Đất ngập nƣớc ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trƣng bởi các loài thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ƣớt” - Theo các nhà khoa học Ôxtrâylia: “Đất ngập nƣớc là vùng đầm lầy, bãi lầy than bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, thƣờng xuyên, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nƣớc tỉnh hoặc nƣớc chảy, nƣớc ngọt, nƣớc lợ hoặc nƣớc mặn, bao gồm cả bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều xuống thấp”.
- Định nghĩa do các kỹ sƣ quân đội Mỹ đề xuất và là định nghĩa chính thức tại Mỹ: “Đất ngập nƣớc là những vùng đất bị ngập hoặc bão hòa giữa nƣớc bề mặt hoặc nƣớc ngầm một cách thƣờng xuyên và thời gian ngập đủ để hỗ trợ cho tính ƣu việt của thảm thực vật thích nghi điển hình trong những điều kiện đất bão hòa nƣớc”. Đất ngập nƣớc nhìn chung gồm: đầm lầy, đầm phá, đầm lầy cây bụi những vùng đất tƣơng tự. Những định nghĩa trên theo nghĩa hẹp, nhìn chung đều xem ĐNN nhƣ đới chuyển tiếp sinh thái (Ecotone), những diện tích chuyển tiếp giữa môi trƣờng trên cạn và ngập nƣớc, những nơi mà sự ngập nƣớc của đất gây ra sự phát triển của một hệ thực vật đặc trƣng ( theo Coward và cộng sự, năm 1979; Enny, năm 1985). Hiện nay, định nghĩa theo công ƣớc Ramsar là định nghĩa đƣợc nhiều ngƣời sử dụng.
Phân loại đất ngập nước Theo hệ thống phân loại ĐNN của Việt Nam dùng để xây dựng bản đồ ĐNN quốc gia, tỷ lệ 1/1.000 và cấp vùng tỷ lệ 1/250.000 có thể sử dụng hệ thống phân loại tới cấp 4. Đối tƣợng quản lý hoặc lập chính sách ở đây là một địa lý mà các đơn vị phân biệt nhau dựa vào thảm thực vật hoặc một tập hợp các loại hình sử dụng đất. Diện tích của mỗi vùng nhƣ vậy thƣờng là hàng triệu ha. Tuy nhiên, nếu sử dụng để lập kế hoạch quản lý cho một khu vực từ vài chục nghìn ha trở xuống có thể sử dụng hệ thống phân loại tới cấp 5 hoặc cấp 6, đối tƣợng quản lý là tập hợp của các nhóm loài thực vật ƣu thế hoặc một loại hình sử dụng đất.
Sau đó có thể đƣa thêm nhiều chỉ tiêu khác nếu cần lập kế hoạch quản lý hoặc lập bản đồ ở tỷ lệ lớn hơn nếu đối tƣợng quản lý là một loài - Cấp 1: Tên gọi = Hệ thống (System): Sự phân biệt đầu tiên là giữa ĐNN bị ảnh hƣởng trực tiếp bởi môi trƣờng biển (mặn) và ĐNN không bị ảnh hƣởng bởi môi trƣờng biển (ngọt) + ĐNN ở vùng biển và ven biển (Marinel coastal Wetlands) là những vùng ĐNN bị ảnh hƣởng bởi thủy triều ven biển bao gồm cả những vùng nƣớc lợ. + ĐNN ngọt (Fesh Water) bao gồm những loại ĐNN không nhận nƣớc từ biển mặc dầu chúng nằm gần ven biển, độ mặn trong nƣớc thƣờng xuyên nhỏ hơn 4g/lít. Trong hệ thống này có những cánh đồng trồng cây nông nghiệp đã đƣợc ngọt hoá bằng đê ngăn mặn, các vùng đồng bằng ngập nƣớc định kỳ hay ngập nƣớc theo mùa, nguồn nƣớc từ các sông hoặc hồ chứa, các cùng đầm lầy, các hồ tự nhiên hoặc nhân tạo, các đồng cỏ hoặc rừng đầm lầy ngập nƣớc định kỳ hay ngập nƣớc theo 15 mùa, các đồng ruộng trồng cây nông nghiệp hoặc nuôi trồng thuỷ sản có thời gian ngập nƣớc ít nhất 6 tháng trong năm ở đồng bằng, trung du hoặc miền núi, các kênh rạch, sông suối có nƣớc chảy thƣờng xuyên ít nhất là 6 tháng trong năm… - Các đơn vị cấp 2: Tên gọi = Hệ thống phụ (Sub-system): Đây là những phức hợp các vùng ĐNN cùng chịu ảnh hƣờng của các yếu tố sinh vật học, hóa học, địa mạo thủy văn nhƣ nhau. Những phạm trù rộng lớn này bao gồm: vùng ven biển, vùng cửa sông, vùng ĐNN chịu ảnh hƣởng của sông, vùng ĐNN thuộc về hồ, đầm.
- Đơn vị cấp 3: Tên gọi = lớp (Class): Các lớp đƣợc phân ra từ các hệ thống phụ căn cứ vào mức độ ngập nƣớc, thời kỳ ngập nƣớc. Các loại chế độ nƣớc sử dungh ở đây đƣợc điều chỉnh từ các loại cơ bản phản ánh đƣợc tần suất ngập nƣớc bao gồm các đơn vị sau: + Các hệ thống phụ vùng cửa sông ven biển, hồ nƣớc mặn, thuộc hệ thống nƣớc mặn đƣợc chia thành: vùng ngập triều, vùng gian triều + Các hệ thống phụ thuộc về sông, hồ đầm, thuộc hệ thống nƣớc ngọt đƣợc chia thành: sông rạch chảy thƣờng xuyên hoặc theo mùa, ngập mƣa thƣờng xuyên hoặc theo mùa. - Các đơn vị cấp 4: Tên gọi = Lớp phụ (Sub-Class): Lớp phụ đƣợc phân chia từ lớp căn cứ vào các yếu tố hiện trạng thực vật và tập hợp của một số loại hình sử dụng đất. - Các đơn vị cấp 5: Loại: Chỉ tiêu phân loại là nhóm loài thực vật ƣu thế hoặc một loại hình sử dụng đất.
- Các đơn vị cấp 6: Phụ loại: Chỉ tiêu phân loại là các yếu tố chất lƣợng nƣớc hoặc dạng đất. Nhiều loại ĐNN ở nƣớc ta nói chung và vùng đồng bằng nói riêng có qui mô diện tích rất nhỏ (ao hồ đầm, diện tích đất ngập nƣớc có nguồn gốc và hiện trạng đa dạng…) khó khoanh vẽ trên bản đồ tỷ lệ nhỏ và trung bình. Vì vậy, để khoanh vẽ, kiểm kê, mô tả, xác định đầy đủ các chức năng, giá trị của chúng, một mặt cần cụ thể hoá thêm hệ thống phân loại theo mục tiêu sử dụng, mặt khác cần tập lập các bản đồ dất ngập nƣớc với tỷ lệ lớn và chi tiết cho các đối tƣợng ƣu tiên (Lê Thái Bạt, 2004). Trong phân loại đất theo mục đích sử dụng, khái niệm đất mặt nƣớc đƣợc dùng để chỉ đất sông suối và mặt nƣớc thuỷ lợi, đất mặt nƣớc nuôi trồng thủy sản, đất mặt nƣớc chuyên dùng… Theo tôi, nếu chỉ phân loại đất theo mục đích sử dụng (không căn cứ vào nguồn gốc hình thành, thổ nhưỡng, nền đáy…) thì khái niệm đất mặt nước hẹp hơn khái niệm đất ngập nước.
Đất mặt nước chỉ là vùng ĐNN ngập thường xuyên như ao hồ, sông suối. Nhưng các loại đất khác như đất úng trũng trồng 1 lúa + cá, đất bán ngập hay ĐNN không thường xuyên là đất ngập nước, nhưng đôi khi không gọi là đất mặt nước. Đất ngập nước và sự phát triển bền vững Lịch sử chứng minh rằng, những vùng ĐNN thƣờng là nơi nuôi dƣỡng các nền văn minh vĩ đại của Mesopotania và Ai Cập thông qua các chức năng quan trọng nhƣ điều tiết nƣớc ngầm, khống chế lũ lụt, giữ lại chất dinh dƣỡng, chất cặn, các độc tố, chắn sóng, chắn gió, bảo vệ bờ biển, phục vụ giao thông thuỷ, du lịch, bảo vệ đa dạng sinh học… tạo ra các sản phẩm nhƣ rừng, động vật hoang dã, tôm, cá, bò sát, nơi cƣ trú của động vật nƣớc. Cho đến nay, ĐNN tại các sông Niger, Indus, Mekong, v.
luôn giữ vai trò quan trọng cho phúc lợi và sự bình yên của những ngƣời dân sống ở các vùng phụ cận. Từ quan niệm sai lầm cho rằng ĐNN là một vùng đất có năng suất thấp, bẩn thỉu, chứa đầy bệnh tật, côn trùng và cá sấu nên nhiều vùng ĐNN đã biến mất và thay vào đó là đất nông nghiệp, đất ở, khu công nghiệp và bƣớc đầu đã mang lại những lợi ích nhất định.