mở đầu vừa là biểu tượng kết thúc trong quá trình tạo lập văn bản” [26, 178]. Khi bắt tay vào văn bản hóa các ý tưởng của mình, tác giả phải có cơ sở định hướng nội dung mà trong đó nhan đề văn bản (dù còn ở dạng trừu tượng ) sẽ là hạt nhân của nó. Nhan đề văn bản là yếu tố thường trực hiện hữu hoặc bằng ý thức, hoặc bằng vô thức chi 18 phối quá trình lập văn bản. Xét trong quá trình này, nhan đề vừa đảm nhiệm chức năng của một yếu tố dự báo, vừa mang nhiệm vụ của một yếu tố hồi cố.
Ví dụ, nhan đề bài thơ “Sài Gòn tôi yêu” của Minh Hương vừa dự báo chủ đề, vừa được nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm qua cách đảo vị trí các tiếng trong nhan đề nên ý nghĩa của nó luôn được nhận thức trở lại trong quá trình tác giả sáng tạo tác phẩm. Văn học luôn gắn bó với đời sống, nhà văn thâm nhập và biểu hiện cuộc sống theo những con đường khác nhau. Nhan đề tác phẩm, nhìn từ phương diện này, giữ vai trò như một cột mốc đánh dấu từng chặng đường thâm nhập cuộc sống của tác giả. Nếu Nguyễn Tuân không đi thực tế Tây Bắc, với khát khao khám phá chất vàng mười của thiên nhiên và con người nơi đây, chắc chắn không thể có những trang viết tài hoa độc đáo như trong tuỳ bút “Sông Đà”.
Một nhà văn trẻ hỏi Nguyễn Tuân: “Thưa bác, bác đã viết Sông Đà như thế nào ạ”. Nguyễn Tuân cười hóm hỉnh, rồi trả lời rất ngắn: “Tôi đi, tôi viết”. Tên gọi “Sông Đà” đã trở thành biểu tượng cho một chuyến đi, nó nói lên bài học về kinh nghiệm sống, vốn sống đối với người sáng tác. Nguyễn Huy Tưởng đi chiến dịch biên giới 1950, viết “Kí sự Cao Lạng”.
Tô Hoài đi cùng bộ đội tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc năm 1952, ông có điều kiện thấu hiểu cuộc sống tủi nhục của đồng bào các dân tộc miền núi dưới ách phong kiến thực dân, nên viết thành công“ Truyện Tây Bắc”. Khi Tố Hữu giác ngộ lí tưởng cộng sản, ông có tập thơ “Từ ấy”.Những tên gọi như“Xiềng xích”,“Ra trận”,“Giải phóng”, “Lên Tây Bắc”. đều phản ánh được từng chặng đường hoạt động cách mạng của nhà thơ Tố Hữu. Nếu như, đối với các nhà văn - chiến sĩ, nhan đề thường in đậm cảm quan chính trị và nhiệt hứng yêu nước cao đẹp; thì ngược lại, đối với sáng tác của nhà văn lãng mạn, ngay từ nhan đề, người đọc có thể nhận thấy rõ một vài gợi ý về cái “tháp ngà nghệ thuật” do anh ta dựng nên.
Cách đạt nhan đề vừa cho thấy sự tìm tòi đa dạng của nghệ sĩ. 19 Tác phẩm văn học dân gian thường không có nhan đề, đó là tài sản chung của cộng đồng, phản sánh kiểu tư duy tập thể. Nhan đề, với tư cách yếu tố cận văn bản, xuất hiện hầu hết ở các tác phẩm văn học viết. Việc đặt nhan đề hay không đặt nhan đề liên hệ mật thiết với ý thức sáng tạo cá nhân, với ý thức sở hữu văn bản.
Đối với một số tác giả có bản lĩnh thì nhan đề văn bản có thể mang những dấu ấn về phong cách cá nhân của họ. Ví dụ: nhan đề bài thơ “Quê hương” in dấu rất rõ con đường thơ của Tế Hanh, quê hương đã trở thành đề tài quen thuộc trong thơ Tế Hanh. Sự trở đi trở lại về một miền quê- làng chài ven biển gắn với những kí ức đẹp đẽ về những buổi ra khơi đầy hứng khởi luôn là niềm cảm hứng say mê bất tận của nhà thơ. Nhan đề truyện ngắn “Bến quê” bộc lộ rõ ràng chất suy tưởng trí tuệ của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Đó là những quy luật triết lí về cuộc đời, là những điều giản dị, bình thường nhưng vô cùng thiêng liêng, sâu sắc không phải lúc nào con người cũng sớm nhận ra, mà phải qua quá trình trải nghiệm có khi đến cuối cuộc đời. * Nhan đề văn bản và người đọc (độc giả) Nhan đề là việc tiếp xúc đầu tiên với văn bản, là kí hiệu đầu tiên, thông tin đầu tiên (cùng với tên tác giả), giúp người đọc có thể dự đoán nội dung của văn vản. Nhan đề thực hiện chức năng kích thích, tạo nên ấn tượng đầu tiên của người đọc về văn bản. Nhan đề văn bản “như một chỉ dẫn định hướng”; nó “hướng dẫn” người đọc trong quá trình lĩnh hội tác phẩm.
Nó để lại trong người đọc những rung cảm và suy nghĩ sâu sắc [26, 178] “ Nhan đề vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc của quá trình lĩnh hội, tiếp nhận tác phẩm. Thông qua nhan đề, người đọc có thể tìm ra sợi dây liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng được nói đến trong văn bản. Có thể coi những cảm nhận, ấn tượng về văn bản được hình thành trong người đọc từ cái tên văn bản là cái vốn ban đầu. Cái vốn này sẽ tiếp tục khơi gợi, làm nảy sinh thêm những cách, những mức độ cảm, hiểu khác nhau trong suốt quá trình tiếp nhận văn bản.
Kết thúc quá trình này rất có thể, cái vốn ban đầu sẽ được 20 bồi đắp và trở nên giàu có trong nhận thức, tình cảm của người đọc. Nhan đề là đối tượng được nhận thức và tái nhận thức nhiều lần trong quá trình độc giả giải mã văn bản. Khi đọc hiểu văn bản, người ta luôn luôn hướng về nó. Nhan đề văn bản là cái gốc để kiểm tra, thẩm định văn bản: dựa vào nó, có thể xem xét sự tương hợp, hay bất tương hợp giữa ý nghĩa của nhan đề văn bản và nội dung của văn bản; xem xét văn bản đã hoàn chỉnh, trọn vẹn chưa,.
Như vậy, nhan đề văn bản là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố cuối cùng chi phối quá trình tiếp nhận văn bản của độc giả. Ví dụ tiếp nhận bài thơ “Mưa” của Trần Đăng Khoa, yếu tố ngôn ngữ đầu tiên đến với người đọc là nhan đề “Mưa”. Nhan đề này khơi gợi những cảm xúc, những liên tưởng, ấn tượng, hình dung ban đầu như hình ảnh những hạt mưa, cơn mưa hay những hiện tượng, sự vật trong cơn mưa.Trong quá trình đọc bài thơ, giải mã các tín hiệu ngôn ngữ, liên kết nhan đề với chúng, người đọc dần nhận ra rằng dưới con mắt của nhà thơ “thần đồng”, sự kì diệu của thiên nhiên không chỉ được hiện ra thật sinh động mà trên hết là vẻ đẹp của con người có tầm vóc lớn lao và tư thế hiên ngang, sức mạnh to lớn có thể sánh với thiên nhiên vũ trụ. Trong giao tiếp giữa tác giả và độc giả, nhan đề văn bản là loại kênh thông tin đặc biệt, không phải chỉ tiến hành thiết lập có một lần mà là nhiều lần, không phải chỉ theo một chiều mà là hai chiều: khi tạo lập văn bản, tác giả luôn dự kiến về đối tượng tiếp nhận, những khả năng mà văn bản sẽ tác động đến người đọc, những suy nghĩ có thể có từ phía người đọc để chọn một nhan đề văn bản thích hợp nhằm hướng người đọc suy luận cho trúng ý của mình; còn khi tiếp nhận văn bản, độc giả luôn có ý thức đối thoại với tác giả, phỏng đoán những khả năng có thể có về nội dung hàm chứa trong nhan đề, trong phần còn lại của văn bản có ý đồ giao tiếp của người viết” [56, 16,17].
* Nhan đề văn bản đặt trong quan hệ với văn bản mà nó định danh Trong quan hệ với văn bản mà nó định danh, nhan đề vừa có tác dụng hướng nội, vừa có tác dụng hướng ngoại, vừa có tính độc lập. 21 Trong vai trò hướng nội của nhan đề, nó biểu trưng cho nội dung toàn văn bản mà nó gọi tên. Toàn bộ văn bản, kể cả nhan đề được coi là chỉnh thể có đủ hai phần đề - thuyết thì nhan đề là phần đề, mà phần văn bản còn lại là phần thuyết. Ví dụ, nhan đề “Yêu trẻ thì hãy làm thầy” biểu trưng cho nội dung một văn bản đăng trên báo “Giáo dục và thời đại”- trang 6, số ra ngày 20/11/2013 là những suy nghĩ về nghề dạy học gắn với kỉ niệm về người thầy tại một vùng quê đã khiến người đọc không khỏi xúc động.
Nhan đề “Cán bộ dốt, dân trả giá” biểu trưng cho nội dung một văn bản đăng trên báo “Khoa học và đời sống”- trang 10 số ra ngày 31/03/2014: nhấn mạnh vai trò, ảnh hưởng của đội ngũ cán bộ trong việc giải quyết các vấn đề góp phần thay đổi diện mạo các đô thị. Nhan đề là một căn cứ để nhận biết tính hoàn chỉnh của văn bản. Một bài viết chỉ có thể được coi là hoàn chỉnh (ngoài những tiêu chí như sự thống nhất về đề tài - chủ đề, mục đích, văn phong) khi nó có thể được đặt cho một cái tên, tức nhan đề. Nếu một văn bản mà không có nhan đề sẽ giống như một người không có tên sẽ thiếu sự định hướng trong tiếp nhận, sẽ bị chìm lẫn đi trong muôn vàn những văn bản khác, người đọc sẽ quên nó ngay sau lúc đọc.
Vì thế, người ta thường định danh cho những văn bản không có tên là “Vô đề”, “Không đề”. Đinh Trọng Lạc trong “Phong cách học văn bản” có khẳng định: “Nhan đề là bộ phận không thể tách rời của văn bản, là một thành tố của văn bản” [26, 33]. Nó là một tiêu điểm mà các yếu tố cấu tạo làm nên văn bản phải hướng về. Nó thường được nhắc đến trong văn bản dưới hình thức này hoặc hình thức khác rất đa dạng: nó có thể được lặp lại nhiều lần trong nội dung văn bản bằng nhiều thủ pháp khác nhau, với các sắc độ đậm nhạt khác nhau, đơn giản có, phức tạp có, tường minh có, hàm ẩn có,.
với những dụng ý khác nhau. Ví dụ, nhan đề “Con cò” của nhà thơ Chế Lan Viên trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2 được lặp lại nhiều lần trong bài thơ bằng thủ pháp điệp ngữ để từ hình ảnh con cò, suy ngẫm và triết lí về ý nghĩa của lời ru và 22 lòng mẹ đối với cuộc đời mỗi người. Hay ý nghĩa nhan đề “Những ngôi sao xa xôi” trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2 của Lê Minh Khuê có nhiều nét tương đồng với các nhân vật của truyện tạo nên hàm ý ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, tư tưởng và những phẩm chất cao cả của những cô thanh niên xung phong quả cảm, trong sáng, hồn nhiên.