Chương I TONG QUAN VE EUROCODE LI1. KET CÂU EUROCODE Bộ Eurocode gồm 10 tiêu chuẩn sử dụng thiết kế nhà va các công trình dân dung khác. Bộ tiêu chuẩn này được chia thành 58 phần và các phụ lục kèm theo của các quốc gia sử dụng Eurocode. Nội dung tong quan về bộ Eurocode có liên quan đến thiết kế móng cọc nhéi bao gồm: Eurocode — Cơ sở thiết kế kết cau (EN 1990): bao gồm những nguyên tac và những yêu cau về sự an toàn, khả năng sử dụng và tuổi tho của kết cau; cung cấp những yêu cầu co bản dé thiết kế và kiểm tra; đưa ra những chi dẫn về độ tin cậy của công trình.
Eurocode 0 này là nên tảng cho toàn bộ Eurocode. Eurocode 1 — Tác động lên kết cấu (EN 1991): tiêu chuẩn này hướng dan sử dụng tác động trong thiết kế nhà và các công trình dân dụng khác, bao gồm những công trình liên quan đến đất nên. Eurocode 2 — Thiết kế kết cấu bê fông (EN 1992): tiêu chuẩn này sử dụng để thiết kế bê tông cốt thép và bê tông dự ứng lực cho công trình nhà và các công trình dân dụng khác. Eurocode 7 — Thiết kế địa kỹ thuật (EN 1997): bao gồm những yếu tố liên quan đến đất nên khi thiết kế nhà và các công trình dân dụng.
Eurocode 8 — Thiết kế kết cầu chịu động dat (EN 1998): dùng dé thiết kế và thi công các công trình nhà và công trình dân dụng khác trong vùng có động đất. EN 1998 cung cấp thêm những qui tắc thiết kế nhằm hỗ trợ thêm những tiêu chuẩn về độ bền cho bê tông, thép, và các loại vật liệu khác. NGUYEN LÝ THIET KE THEO EUROCODE Nguyên ly thiết kế nhà và các công trình dân dung theo Eurocode là thiết kế theo trang thái giới hạn, là sự tách biệt giữa thiết kế theo trạng thái giới hạn cực hạn (ULS) và trạng thái giới hạn sử dụng (SLS). Quan niệm nên tảng của trạng thái giới hạn là xác định hoặc là an toàn (mức độ đủ an toàn, còn sử dụng được) hoặc là không an toàn (phá hoại, không còn sử dụng được).
Sự tách biệt giữa trạng thái an toàn và không an toàn của kết cầu được gọi là trạng thái giới hạn. Nói cách khác, trạng thái giới hạn là sự lý tưởng hóa các hiện tượng hoặc sự việc không mong muốn xảy ra. Nói chung, trạng thái giới hạn là trang thái mà kết cau không còn đủ độ an toàn theo tiêu chuẩn thiết kế. Mỗi trạng thái sẽ đáp ứng riêng mỗi yêu cầu áp dụng cho từng kết cau công trình khác nhau.
[4] Trạng thái giới hạn cực hạn ULS liên quan đến sự an toàn của con người và kết cấu. Theo Eurocode 7, trạng thái giới hạn cực hạn bao gồm sự mất cân băng, biến dạng dư, sự đứt gãy, mat ôn định và phá hoại do mỏi. Trạng thái giới han sử dụng SLS liên quan đến công năng của kết cau trong quá trình sử dụng bình thường và mức độ tiện nghi cho con người. Trạng thái giới hạn sử dụng có thé là phục hồi được (chăng hạn, độ võng) hoặc không phục hồi được (chăng hạn, khi kết câu đạt đến giới hạn chảy của vật liệu).
Thiết kế theo trạng thái giới hạn là kiểm tra cả mức độ an toàn và khả năng sử dụng của công trình theo hai trạng thái giới hạn trên. Có hai điểm khác biệt chính giữa thiết kế theo trạng thái giới hạn cực hạn với trạng thái giới hạn sử dụng là: [5] - Nếu vi phạm trạng thái giới hạn cực hạn thì sẽ dẫn đến phá hoại kết cau và phải dỡ bỏ công trình hoặc sửa chữa kết cầu công trình; nếu vi phạm trạng thái giới hạn sử dụng thì thường không phải phá bỏ công trình, mà có thể tiếp tục sử dụng lại nếu bỏ những tác động gây ra sự vi phạm này. Tuy nhiên, cũng cần phải xác định rõ giữa trạng thái giới hạn sử dụng phục hồi và không phục hồi. - _ Tiêu chuẩn trang thái giới hạn cực hạn liên quan đến những thông số của kết cau va những tác động có liên quan; trong khi đó tiêu chuẩn trạng thái giới hạn sử dụng lại phụ thuộc vào những yêu cau của khách hàng và người sử dụng (có thể mang tinh chất chủ quan), cũng như những yêu cầu về thiết bị thi công hoặc những phần tử phi kết cau (như tường bao che, bồn nước mái, ống khói, hệ thống đường ống nuoc,.
Tuy nhiên, không phải bat kỳ hiện tượng hay sự kiện nào cũng dé dang phân loại theo trạng thái giới hạn cực hạn hay trạng thái giới hạn sử dụng. Chăng hạn, mức độ dao động sàn nhà của nhà cao tầng khi chịu tác động gió: hiện tượng này rat dễ gây bat lợi đến sức khỏe của con người khi dang làm việc trong tòa nha và kế cả những vat dụng trong nhà, nhưng van không gây ra phá hoại kết cau công trình. Ngoài ra, trong cùng một hiện tượng hay sự kiện xảy ra, người thiết kế phải kiểm tra trạng thái giới hạn sử dụng cho cau kiện nay và cũng phải kiểm tra trạng thái giới hạn cực hạn cho cầu kiện khác. Chăng hạn, khi xảy ra hiện tượng lún móng công trình khi vượt qua giới hạn cho phép, người thiết kế phải kiểm tra trạng thái giới hạn sử dụng cho kết cau móng và cũng phải kiểm tra lại trạng thái giới hạn cực hạn cho kết cầu bên trên cũng như kết câu móng bên dưới, bởi vì khi lún rất dễ gây ra nứt của phần tử kết cau công trình.
Sự thay đối về tác động (là tải trọng tác dụng như: trọng lượng bản thân kết cầu, hoạt tải sử dụng, hoạt tải gió, tải động đất và các loại tải đặc biệt khác như cháy nỗ, va chạm.), sự ảnh hưởng của môi trường và tính chất của kết cau xảy ra trong suốt quá trình tổn tại của công trình cũng phải được xem xét vào thiết kế bang cách lựa chọn tình huống thiết kế phù hợp (chăng hạn như: tình huống lâu dài, tình huống tức thời, tình huống đặc biệt và tình huống động đất), các tình huống này đại diện cho một khoảng thời gian nhất định mà có thé xảy ra trong suốt tuổi thọ công trình. Nếu hai hay nhiều tác động độc lập cùng xảy ra đồng thời, thì tổ hợp của chúng can phải xem xét trong quá trình thiết kế. Trong mỗi trường hợp t6 hợp tác động, cần giả định mức độ và trình tự ảnh hưởng của từng tác động thông qua việc sắp xếp thứ tự tác động của chúng, với mục đích thiết lập đường bao hệ quả tác động (là kết quả của tác dụng tải trọng như: lực dọc, lực cắt, moment, ứng suất, biễn dạng) cần xem xét trong quá trình thiệt kê. Nếu các trạng thái giới hạn (được xem xét trong thiết kế) phụ thuộc vào thời gian (như: sự thay đổi của tác động và độ bên), thì khi kiểm tra kết cau phải xét đến yếu tố tuổi thọ công trình.
Điều nay nói lên rang, hệ quả tác động (theo thời gian, như: trang thái mỏi của kết cau) được xem như là một giá tri đặc trưng, giá tri nay được tích lũy theo thời gian trong tudi thọ công trình và cần được xem xét vào trong thiết kế. Dé tránh hoặc hạn chế xảy ra trạng thái giới hạn thì người thiết kế cần kiểm tra trạng thái giới han theo một hoặc nhiều phương pháp sau: - Su dụng phương pháp tính toán; - Dựa vào kinh nghiệm thiết kế tương ứng với loại tải trọng và điều kiện đất nền tương tự; - Thi nghiệm bang mô hình trong phòng thí nghiệm hoặc thí nghiệm thực ngoài công trường: phương pháp nay thường được sử dụng trong thiết kế cọc và thiết kế kết cầu neo; - Phuong pháp quan sat. NHỮNG YÊU CAU THIẾT KE THEO EUROCODE Có 4 yêu cau co bản khi thiết kế công trình theo tiêu chuân Eurocode như sau: 1. Một công trình khi được thiết kế và thi công để sử dung trong tuổi thọ công trình với một mức độ tin cậy nhất định và kinh tế, thì phải đáp ứng được 2 yêu câu sau: - _ Phải chịu được tác động và những ảnh hưởng của tác động trong suốt quá trình sử dụng và thi công (điều nảy liên quan đến những yêu cầu vẻ thiết kế theo trạng thái giới hạn cực hạn ULS); - Phải đáp ứng được những công năng su dụng khi chịu tác động và những anh hưởng của tác động (điều này liên quan đến những yêu cầu về thiết kế theo trạng thái giới han sử dung SLS).
Thiết kế một công trình phải đảm bảo phù hợp với độ bền kết cấu (khả năng chịu lực của kết cầu), công năng sử dụng và tuổi thọ công trình. Trong trường hợp cháy, độ bền kết cau (khả năng chịu lực của kết câu) phải đảm bảo những yêu câu trong một khoảng thời gian nhất định. Yêu cầu này nhằm đảm bảo độ an toàn cho người sử dụng, kết cau phải đảm bảo an toàn trong một khoảng thời gian nhất định để con người có thể thoát ra khỏi công trình mà không ảnh hưởng đến sức khỏe. Công trình sẽ được thiết kế và thi công nhằm đảm bảo không bị phá hoại khi chịu tác động của nỗ, va chạm và những ảnh hưởng khác do con người, yêu cau này liên quan đến độ cứng của kết cấu.
Ngoài ra, khi thiết kế công trình phải tránh hoặc hạn chế những phá hoại tiềm an cho công trình thông qua một trong những điều kiện sau: - _ Tránh, khử hoặc làm giảm đi những bat lợi cho kết cau khi làm việc; - _ Lựa chọn loại kết cấu ít nhạy với những tác động bat loi; - _ Lựa chọn loại kết câu và cách thức thiết kế phù hợp để đảm bảo phần tử kết cầu sau khi đã bỏ những tác động bất lợi thì vẫn làm việc bình thường hoặc có thể bị phá hoại cục bộ trong phạm vi chấp nhận được; - Không sử dụng những hệ thống kết cấu có thé bị sụp đồ mà không có cảnh báo trước khi chịu những tác động: - Cần kết nối các phân tử kết cầu lại với nhau, để có thé làm tăng độ cứng ôn định tong thé cho công trình. Dé dam ứng được những yêu câu trên thì cân phải: - Lua chọn loại vật liệu phù hợp; - _ Thiết kế phù hợp; - _ Phải có qui trình kiểm soát riêng biệt trong quá trình thiết kế, sản xuất, thi công va sử dụng cho một dự án nhất định.