CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐO SÂU CỘNG HƯỞNG TỪ Đo sâu cộng hưởng từ (viết tắt: ĐSCHT; tiếng Anh: Magnetic Resonance Sounding, viết tắt: MRS) dựa trên hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân và hiện là phương pháp địa vật lý duy nhất trên thế giới được dùng để khảo sát trực tiếp nước ngầm từ mặt đất. Tất cả các phương pháp địa vật lý khác dùng trong tìm kiếm nước ngầm đều là gián tiếp theo các tham số vật lý như điện trở suất, các tham số phân cực kích thích, hằng số điện môi, tốc độ truyền sóng địa chấn,….G và các cộng tác viên ở Nga đã nghiên cứu phương pháp, giải bài toán thuận và nghịch cho ĐSCHT bằng khung dây đơn (một khung dây làm chức năng phát trong quá trình phát sóng điều hoà đơn sắc, sau đó nhờ bộ chuyển mạch để làm chức năng thu), trong môi trường điện trở suất cao, sáng chế máy cộng hưởng từ đầu tiên phục vụ khảo sát nước ngầm mang tên Hydroscope, nhận bằng sáng chế ở Liên Xô năm 1988 [61] và ở Anh năm 1989 [62]. Đến năm 1999 và 2000 Weichman và nnk công bố công trình nghiên cứu lý thuyết tổng quát về ĐSCHT trong môi trường dẫn điện, tính tới hiện tượng phân cực elip cho loại khung dây bất kỳ (khung dây đơn, khung dây tách biệt,. Lần đầu tiên việc đánh giá các tính chất của các khung dây tách biệt và các tính chất của các đường cong ĐSCHT tương ứng được trình bày vào năm 2003 [19] và thể hiện đầy đủ trong luận án tiến sỹ của Hertrich M năm 2005 [17], cho thấy độ phân giải cao trong khảo sát môi trường 2D nông.
Những nghiên cứu lý thuyết về ĐSCHT trên thế giới tập trung chủ yếu ở bốn trung tâm là Nga, Pháp, Đức và Mỹ. Sau đây sẽ trình bày cơ sở vật lý của ĐSCHT , cơ sở toán học - kết quả nghiên cứu lý thuyết bằng mô hình hoá toán học dựa vào những công trình của bốn trung tâm nêu trên cho đến năm 2008. Một số bài báo tiếng Việt đã giới thiệu ĐSCHT [10,45,46] và kết quả thử nghiệm đầu tiên ở Việt Nam [47].1 Nguyên lý cơ bản và bài toán thuận của đo sâu cộng hưởng từ 1. Nguyên lý cơ bản của đo sâu cộng hưởng từ Hydro có 3 đồng vị: 1H, 2H và 3H, trong đó 1H phong phú nhất, chiếm 99.
Hydro có trong phân tử nước. Trong hạt nhân của 1H chỉ có một proton và đó là đối tượng khảo sát trực tiếp nước ngầm của ĐSCHT. Proton là hạt tích điện dương, có khối lượng đặc trưng, có momen từ µ (ký hiệu chữ hạt 4 tích điện dương, có khối lượng đặc trưng, có momen từ µ (ký hiệu chữ đậm là vectơ) và có spin. Spin là đại lượng mang tính lượng tử, đặc trưng cho hạt vi mô, có thể coi đó là momen động lượng quay nội tại của hạt vi mô, thường gọi là momen spin, nó mô tả bản chất trường từ của hạt vi mô.
Momen từ liên hệ cộng tuyến với momen spin I theo biểu thức: µ = γh I (1.1) Trong đó : h I là xung lượng góc của hạt nhân ( h là hằng số Plank rút gọn: h = h/2 π = 1,054592. 10-34 J s, h là hằng số Plank), γ là tỉ số từ hồi chuyển (có giá trị đặc trưng cho mỗi hạt nhân, đối với hạt nhân hydro 8 -1 -1 γ = 2,675. Khi các proton nằm trong trường từ tĩnh bên ngoài, trong ĐSCHT là trường địa từ B0, thì các momen từ định hướng theo phương z của trường từ bên ngoài, các momen từ quay đảo quanh trục z với tần số vòng Larmor ω0 (tần số Larmor f 0 ) và ở trạng thái cân bằng thì tạo ra độ từ hoá M0 được xác định theo các biểu thức sau: (1.3) Trong đó kB là hằng số Boltzmann, T là nhiệt độ tuyệt đối, N/V là số spin trong đơn vị thể tích. Dấu âm ở biểu thức của tần số vòng Larmor ω0 thể hiện sự quay đảo của các momen từ quanh trục z theo chiều kim đồng hồ (Levitt, 1997).
Khi các momen từ đã nằm trong trường từ tĩnh B0 người ta phát dòng xoay chiều với tần số vòng Larmor: I(t) = I0cos( ω0 t) vào khung dây phát trong một thời gian ngắn τ p (xung điện từ) để tạo ra trường từ điều hoà cộng hưởng BT. Dưới tác dụng của BT, các momen từ quay đảo sẽ lệch khỏi phương z của trường từ tĩnh B0 một góc θ về phương của trường BT. Do trường điện từ điều hoà truyền trong môi trường đất đá dẫn điện nên trường từ kích thích BT sẽ phân cực elip và tạo ra lệch pha giữa trường đã truyền đi (transmitted field) so với trường kích thích do sự dẫn điện của môi trường. Các nghiên cứu trước đây của Trushkin và nnk (1995) và Shushakov (1996) đã xem xét điện trở suất của đất đá trong khi tính biên độ và pha của tín hiệu cộng hưởng từ và mô tả tín hiệu cộng hưởng từ có giá trị phức, nhưng lại không khảo sát phân cực elip mà dùng phép xấp xỉ cho trường hợp độ từ khuynh 900 thích hợp cho vùng gần cực địa từ ở Xiberi, Nga.
Weichman và nnk (1999, 2000) đã khảo sát đầy đủ sự phân cực elip của trường kích thích và biểu thức của tín hiệu phức cho loại khung dây và vị trí địa lý bất kỳ. 5 Weichman và nnk (2000) đã chứng tỏ rằng chỉ có thành phần BT⊥ của trường kích thích BT vuông góc với trường địa từ B0 mới có tác dụng tới các spin. Trong quá trình tính toán B T⊥ phân cực elip được phân tích thành hai phân cực tròn với các biên độ khác nhau và quay trái chiều nhau B T⊥ và B T_ , trong đó B T+ quay theo chiều kim đồng hồ và như vậy là quay cùng chiều với momen từ, còn B -T quay ngược chiều kim đồng hồ quanh trường từ tĩnh B0. Trong quá trình ĐSCHT người ta tăng dần độ sâu khảo sát tại mỗi điểm đo bằng cách tăng momen xung q (q = I0 τ p ).
Momen xung q trong ĐSCHT đóng vai trò gần tương tự như khoảng cách giữa 2 điện cực phát AB trong đo sâu điện thẳng đứng. Sau khi ngắt xung, các momen từ hồi phục, suy giảm dần để trở lại trạng thái ban đầu theo phương của trường địa từ B0 và tạo ra tín hiệu cộng hưởng từ (điện áp) trong khung dây thu. Điện áp đo được ngay sau ngắt xung càng lớn khi hạt nhân hydro càng nhiều. Chúng có trong phân tử nước, dầu khí (đối tượng khảo sát của carota cộng hưởng từ) và cả trong phân tử ở thể rắn.
Chúng được phân biệt dựa vào đặc điểm hồi phục khác nhau, theo hằng số thời gian suy giảm T khác nhau do mức độ linh động khác nhau. Có hai loại T tương ứng với hai loại vectơ từ hoá, đó là T1 đối với vectơ từ hoá dọc (dọc theo phương của trường địa từ B0) và T2 đối với vectơ từ hoá ngang (vuông góc với phương của trường địa từ B0). Sự suy giảm đó được gọi là suy giảm cảm ứng tự do (Free Induction Decay, FID) và được dùng trong ĐSCHT. Trong thực tế thường hay gặp loại suy giảm cảm ứng tự do nhanh chóng hơn, gọi là suy giảm T2* do tính bất đồng nhất của trường vật lý cũng như sự biến đổi độ cảm từ trong môi trường.
Các hằng số thời gian suy giảm tuân theo quan hệ sau : T2* ≤ T2 ≤ T1 [12,29]. Hạt nhân trong phân tử chất rắn có mức độ linh động rất hạn chế và suy giảm rất nhanh (T2 rất nhỏ), như bitum (một loại hydrocarbon ở thể rắn) có T2 ≤ 0,1 ms. Trong đất đá lỗ hổng như cát kết, trầm tích vỡ vụn giàu thạch anh, các hạt nhân trong phân tử chất lỏng liên kết với bề mặt chất rắn (nước liên kết) hoặc trong lỗ hổng nhỏ khi dao động luôn va chạm với bề mặt chất rắn, tiêu hao năng lượng nhiều nên năng lượng suy giảm nhanh (T2 nhỏ), hạt nhân ở trong hổng lớn hơn (nước tự do) có T2 lớn hơn [11,58]. Máy đo có thời gian chết (“dead time”, máy chưa đo được) 30 ÷ 40 ms, nên chỉ đo được tín hiệu của nước tự do.
Đó là cơ sở vật lý của việc xác định trực tiếp nước ngầm của ĐSCHT ở mặt đất. Tín hiệu dao động với tần số vòng Larmor, suy giảm theo quy luật hàm mũ với hằng số thời gian T2* , lệch pha ϕ 0 so với trường phát và phụ thuộc vào momen xung q như sau: 6 (1.4) Tín hiệu ban đầu E0 và ϕ 0 (ngay sau khi ngắt xung: t = 0) không đo được do có thời gian chết τ d của máy, nên phải ngoại suy để tính ra theo các biểu thức sau (Legchenko A.6) Trong đó: ∆ω ( ∆ω = ω0 − ωrf ) được gọi là dịch chuyển tần số (frequency shift hoặc frequency offset), là hiệu số giữa tần số Larmor vòng ω0 của trường kích thích và tần số vòng của tín hiệu cộng hưởng từ đo được ω rf. Bốn tham số E( τ d ,q), T2* (q), ϕ ( τ d ,q) và ∆ω (q) được tính theo các thành phần cùng pha và lệch pha trong quá trình xử lý số liệu (Legchenko A. Các tham số đó được dùng để ngoại suy theo các biểu thức (1.5) từ các giá trị đo được sau thời gian chết τ d thành giá trị biên độ (1.5) ban đầu ở thời điểm t = 0.
Đường ghi biên độ suy giảm với thời gian theo hàm mũ, còn pha thay đổi tuyến tính. Các kết quả khảo sát đều dùng biên độ và pha ban đầu. Thế phức = liên hệ tuyến tính với phân bố hàm lượng nước f(r) qua hàm nhân : (1.7) Trong đó hàm nhân phức phụ thuộc vào độ từ khuynh, điện trở suất ρ (V ) trong thể tích khảo sát, phương tuyến đo so với hệ toạ độ từ và hệ quan sát. Bài toán thuận của đo sâu cộng hưởng từ 1.
Tín hiệu cộng hưởng từ tổng quát Bài toán thuận của ĐSCHT tổng quát cho môi trường dẫn điện, độ từ thẩm bằng độ từ thẩm của không khí, ba chiều (3D) với các khung dây bất kỳ được trình bầy đầu tiên trong công trình của Weichman và nnk (1999, 2000). Sau đây là biểu thức thế V của tín hiệu ĐSCHT (Weichman và nnk, 2000) ở thời điểm t = 0: 7 (1.