mở đầu ra một triển vọng lớn cho việc trồng cây nguyên liệu ở nước ta. Xuất phát từ vấn đề trên tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến sự hình thành hom cây Ngâu (Aglai duperreana) tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu nhằm rút ngắn thời gian giảm chi phí trong nhân giống. - Tạo ra được cây con đảm bảo số lượng và chất lượng, cung cấp đủ cây giống cho việc trồng cây nguyên liệu.
Mục tiêu nghiên cứu - Lựa chọn được loại hom đem giâm cho tỉ lệ ra rễ tốt nhất để sản xuất cây giống hom. - Lựa chọn được độ dài hom đem giâm cho tỉ lệ ra rễ tốt nhất để sản xuất cây giống Ngâu. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, biết áp dụng giữa lý thuyết với thực hành. + Là tài liệu học tập cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan, nhân giống cây Ngâu.
+ Thông qua quá trình thực hiện đề tài sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn, nâng cao kiến thức và kĩ năng cho bản than để thực hiện công tác sau này. + Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất + Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho công tác nhân giống loài cây Ngâu bằng hom. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Như chúng ta đã biết tất cả các thực vật bậc cao đều có hai phương thức sinh sản chủ yếu là sinh sản hữu tính (bằng hạt) và sinh sản sinh dưỡng (bằng giâm hom, chiết ghép, nuôi cấy mô phân sinh). Sinh sản bằng hạt tạo được cây con khỏe mạnh nhưng lâu có quả và khó giữ được đặc tính di truyền tốt của cây mẹ, để giữ được các đặc tính tốt của cây giống người ta thường dùng các phương thức nhân giống sinh dưỡng là phương thức dựa trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm. Đây là phương thức phân bào về cơ bản không có sự tổ hợp lai của thể nhiễm sắc trong quá trình phân chia cho nên các cây mới được tạo ra bằng hom hoặc bằng mô vẫn giữ được các đặc tính di truyền của cây lấy giống nên gần đây rất được coi trọng, đặc biệt là để nhân các dòng cây lai đời F1. Vì thế nhân giống bằng hom là phương thức đang được dùng phổ biến cho những giống cây có năng suất cao bởi chúng có các đặc điểm: - Nhân giống bằng hom là dùng một phần lá, một đoạn thân, một đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới.
Đây là những nguyên liệu sẵn có dễ làm, dễ thao tác, hệ số nhân giống lớn, tương đối rẻ tiền nên được dùng phổ biến.[4] - Cây hom mặc dù không giữ được các đặc trưng hình thái giải phẫu nhưng lại giữ được các đặc điểm di truyền mong muốn của cây mẹ. - Đặc biệt là đối với một số loài cây lâm nghiệp có hình thái lai xa thì nó còn giúp giữ các đặc tính tốt ở đời F1 tránh phân ly ở đời F2 và như vậy chúng có hệ số biến động nhỏ hơn cây sinh sản hữu tính bằng hạt. Vấn đề có ý nghĩa quyết định trong giâm hom là làm cho hom ra rễ còn thân sẽ được hình thành từ chồi bên, hoặc chồi bất định. Nếu sử dụng hom lá thì hom phải hình thành cả rễ và thân mới.
Tuy nhiên, khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây lấy n 4 làm giống cũng như loại tế bào đã phân hóa của cây đó, người ta phải tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho chúng ra rễ. Cơ sở tế bào học Theo viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào, đều có tính độc lập về mặt sinh lí rất cao. Chúng có khả năng khôi phục lại các cơ quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh. Trong cơ thể thực vật, nước và các chất khoáng hoà tan được vận chuyển từ rễ lên lá theo mạch gỗ, còn các sản phẩm hữu cơ sản xuất ở lá được chuyển xuống gốc (rễ, củ, …) theo mạch rây.
Khi ta cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, các sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở các tế bào vỏ của phần bị cắt. Các chất hữu cơ này cùng với chất điều hoà sinh trưởng Auxin nội sinh (được tổng hợp ở ngọn cây chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành mô sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mô sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều kiện thuận lợi. Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn: - Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng. - Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ.
- Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoài Năm 1902 Nhà sinh lý thực vật người đức Haberladt, đã tiến hành nuôi cấy mô tế bào thực vật để chứng minh tế bào là toàn năng. Tế bào có tính toàn năng thể hiện như sau: Bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quan như rễ, thân, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng khác trong cơ thể, đều có khả năng sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh. Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa của cây. Cơ sở di truyền học Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan.
Đặc trưng của n 5 hình thức phân bào trên là số lượng NST của tế bào khởi đầu và tế bào mới được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên phân. Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết quả từ một tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu. Nhờ có quá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho các tế bào con. Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên theo chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST phân chia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như nhau và giống tế bào ban đầu.
Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh. Đây là một quá trình đảm bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ. Hom của các loài cây thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây (bao gồm cả chồi vượt). Các loại cành giâm thường gặp là cành non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ.
Tùy thuộc vào các yếu tố như đặc tính loài cây, điều kiện thời tiết lúc giâm hom… mà chọn cành có khả năng ra rễ cao nhất. Cơ sở tế bào học của sự hình thành rễ bất định Rễ bất định là loại rễ được sinh ra ở bất kì bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của nó. Có 2 loại rễ bất định là: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh. + Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc tự nhiên trong thân cành cây nhưng chỉ phát triển khi đoạn thân hoặc đoạn cành đó tách ra khỏi cây mẹ.
+ Rễ mới sinh: Là loại rễ chỉ hình thành khi được cắt hom và hậu quả của phản ứng với vết cắt, nghĩa là khi cắt hom thì các tế bào sống tại vết cắt bị n 6 tổn thương và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được hở ra và gián đoạn các chất dinh dưỡng được tổng hợp từ ngọn lá đi xuống tới chỗ vết cắt. Qúa trình nguyên phân xảy ra theo 3 bước tạo thành các mô sẹo, là cơ sở của sự hình thành 1 lớp tế bào bị thối trên bề mặt. Vết thương được đậy lại bằng lớp keo bảo vệ, lớp keo bảo vệ này giúp mặt cắt khỏi bị thoát hơi nước. Các tế bào sống ở ngay dưới lớp tế bào bảo vệ, lớp tế bào bảo vệ đó bắt đầu phân chia sau khi vết cắt được vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm.
Các tế bào lân cận của vùng tượng tầng mạch và libe gỗ bắt đầu hình thành rễ bất định. Chính vì vậy việc giâm hom cành để hình thành bộ rễ mới là quan trọng nhất, sau đó là số lượng rễ/hom và chiều dài rễ. Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau. Thông thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự xuất hiện của rễ hom.
Nhưng ở nhiều loài cây, sự xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ. Mức độ hóa gỗ cũng ảnh hưởng tói sự ra rễ của hom. Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém. Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom nhưng phụ thuộc bởi 3 yếu tố chính la khả năng ra rễ của hom (cá thể, giai đoạn và vị trí của hom) môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ.
Cơ bản thuộc 2 nhóm nhân tố chính: Nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố ngoại sinh. Nhóm nhân tố nội sinh - Đặc điểm di truyền loài: Nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài cây đều có khả năng ra rễ như nhau, do đặc điểm di truyền loài, biến dị, các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau.