ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ngày nay có khoảng 80% dân số ở các nƣớc đang phát triển với số dân khoảng 3,5 - 4 tỉ ngƣời có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào các nền y học cổ truyền. Khoảng 85% trong số này sử dụng dƣợc liệu hoặc các chất chiết suất từ dƣợc liệu, nhất là từ thực vật có hoa. Tuy nhiên, vấn đề tồn tại chính là chất lƣợng của dƣợc liệu không ổn định, ảnh hƣởng đến tính an toàn và hiệu lực của thuốc cây cỏ. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến điều này là do việc tạo nguồn dƣợc liệu không đạt tiêu chuẩn, bao gồm các yếu tố bên trong (nguồn gen) và bên ngoài (môi trƣờng, trồng trọt, thu hái, chế biến sau thu hoạch, vận chuyển, tồn trữ).
Việt Nam có nguồn tài nguyên dƣợc liệu đa dạng phong phú,tuy nhiên, nguồn tài nguyên dƣợc liệu tự nhiên đang ngày một cạn kiệt, nhiều loài đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng, cây dƣợc liệu nuôi trồng đang bị thu hẹp hoặc phát triển một cách tự phát mất cân đối. Sự giảm sút nguồn dƣợc liệu có nhiều nguyên nhân, có thể chủ quan lẫn khách quan nhƣ chiến tranh, sự khai thác tràn lan, trình độ nhận thức con ngƣời còn hạn chế nhất là tại vùng miền núi nơi có nhiều tài nguyên sinh vật. Hơn nữa trƣớc yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội đời sống chúng ta đang phải đối mặt mâu thuẫn giữa cung và cầu, bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này. Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và nguồn cây dƣợc liệu nói riêng đang là vấn đề cấp bách đƣợc đặt lên hàng đầu.
Bởi vì bảo vệ tài nguyên sinh vật là chúng ta đang bảo vệ sự cân bằng sinh thái, bảo vệ sự đa dạng sinh học và môi trƣờng, bảo vệ chính chúng ta về sức khỏe, 2 kinh tế, văn hóa,. Hơn nữa, phát triển dƣợc liệu trong giai đoạn tới cũng mở ra cơ hội rất lớn cho việc giao thƣơng, tham gia thị trƣờng quốc tế về dƣợc liệu và dƣợc phẩm có nguồn gốc tự nhiên. Nhƣng hàng năm nguồn dƣợc liệu trong nƣớc chỉ đáp ứng đƣợc 26% còn lại chúng ta phải nhập từ nƣớc ngoài, trong đó chủ yếu từ Trung Quốc chiếm 54% mà chất lƣợng dƣợc liệu nhập khẩu chƣa đƣợc kiểm tra và quản lý chặt chẽ nên vẫn bị hiện tƣợng nhập “dƣợc liệu rác”. Theo Cục Quản lý dƣợc (2012), năm 2010 nƣớc ta nhập khẩu 16.790,38 tấn dƣợc liệu thô với tổng giá trị nhập khẩu dƣợc liệu 15.143,39 nghìn USD và năm 2011 nhập 18.772,48 tấn dƣợc liệu thô, tăng 11,81% so với năm 2010 và tổng giá trị nhập khẩu dƣợc liệu năm 2011 đạt 16.445,86 nghìn USD, tăng 8,6% so với năm 2010.
Theo báo cáo của Cục quản lý dƣợc, nhu cầu sử dụng Sơn Đậu làm thuốc hàng năm là 150 tấn, trong đó lƣợng nhập từ Trung Quốc là 98,5%. Qua đó ta thấy, nhu cầu dƣợc liệu trong và ngoài nƣớc ngày càng cao cho nên việc phát triển dƣợc liệu nói chung và cây Sơn Đậu nói riêng là rất khả quan đối với nhu cầu tiêu thụ trong nƣớc và xuất khẩu. Song hiện nay ở Việt Nam việc phát triển nguồn dƣợc liệu này trên diện rộng còn gặp những khó khăn nhƣ: + Phƣơng pháp, quy trình nhân giống tốt nhất để có tỷ lệ cây con đạt chất lƣợng cao khi xuất vƣờn; + Quy trình kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc để cho cây sinh trƣởng, phát triển tốt và tích luỹ đƣợc hàm lƣợng hoạt chất cao nhất phục vụ cho nhu cầu sản xuất thuốc. Chính vì vậy, để có cơ sở cho việc phát triển nguồn dƣợc liệu Sơn Đậu trên quy mô lớn một cách hiệu quả, bền vững, chúng tôi tiến hành thực hiện đề 3 tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến khả năng nẩy mầm và chất lượng cây giống Sơn Đậu trong giai đoạn vườn ươm”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Xác định đƣợc thời vụ gieo hạt thích hợp nhất đến khả năng nẩy mầm và chất lƣợng cây giống trong vƣờn ƣơm 1.2 Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến thời gian nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến động thái tăng trƣởng chiều cao cây, số lá trên cây trong giai đoạn vƣờn ƣơm - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến đặc điểm nông sinh học - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến tiêu chuẩn cây xuất vƣờn 1.3 Ý nghĩa của đề tài +Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên củng cố kiến thức đồng thời biết vận dụng những kiến thức đã học đƣợc vào thực tế. Biết cách thực hiện một khoá luận tốt nghiệp, có thêm kiến thức và kinh nghiệm sản xuất. + Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo đúc rút đƣợc những kinh nghiệm thực tế.
+ Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Qua kết quả nghiên cứu xác định đƣợc thời vụ gieo trồng thích hợp nhất nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng cây giống 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc,đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây sơn đậu 2.1 Nguồn gốc của cây sơn đậu Giống sơn đậu ban đầu là giống nguyên thủy, thu trong tự nhiên (cây hoang dại) Tên khoa học: Sophora tonkinensis Gapnep Tên đồng danh: Sophora subprostrata( Chun et T.Chen); Thuộc họ Đậu Fabaceae; Sơn Đậu có mọc rải rác trên các sƣờn núi đá vôi thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm phía nam Trung Quốc và phía bắc Việt Nam Tên Việt nam: Hòe Bắc Bộ, Hòe bắc Biệt Nam; Tên khác: Sơn đậu, quảng đậu căn, hoàng kết, khổ đậu căn…Sơn đậu là cây có nguồn gốc ở nhiệt đới nóng ẩm, sơn đậu mọc hoang dại đã đƣợc tìm thấy ở Nam Trung Hoa và các tỉnh miền Bắc nƣớc ta cho đến tận Đà Nẵng. Hiện tại ở Việt Nam ngoài tài liệu về thực vật, thì chƣa có bất cứ công trình nghiên cứu khoa học chính thức nào về cây này.2 Phân bố của cây sơn đậu Sơn Đậu có mọc rải rác trên các sƣờn núi đá vôi thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm phía nam Trung Quốc và phía bắc Việt Nam 5 Sinh trƣởng, phát triển tốt trong điều kiện khíhậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới (nguyên sản của Sophora tonkinensis là Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Trƣớc năm 1950, Sophora tonkinensis đƣợc phân bố ở 21 quận của tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc. Nhƣng sau đó, các nguồn tài nguyên Sophora tonkinensis hoang dã giảm nhanh chóng do sự gia tăng của việc khai thác để sử dụng làm thuốc và xuất khẩu.
Cho nên, trong những năm của thập niên 1980, Sophora tonkinensis hoang dã chỉ còn ở 10 quận và đến năm 2002 chỉ còn ở 4 quận của tỉnh Quảng Tây. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho giá của Sơn Đậu tăng nhanh.Trƣớc thực tế đó, để đáp ứng nguồn nguyên liệu dƣợc Sơn Đậu trong nƣớc và xuất khẩu, chính phủ Trung Quốc đã và đang có nhiều chính sách khuyến khích trồng Sơn Đậu với quy mô lớn. Nhƣng vấn đề này hiện nay vẫn đang gặp khó khăn do thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cây giống Là loài quý hiếm , có tên trong sách đỏ Việt Nam. Phân bố ở Việt Nam: Hà Giang( Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ); Quảng Ninh( các đảo thuộc Vịnh Hạ Long); Ninh Bình( Nho quan); Đà Nẵng(Sơn trà)… Ở Trung Quốc phân bố địa lí của cây Sơn đậu chủ yếu ở các tỉnh Quảng tây (từ Tây nam sang Tây bắc), tỉnh Quý Châu và vùng Đông nam của tỉnh Vân nam, các khu vực có vị trí 22°21'~26°6' độ vĩ Bắc, 103°20'~108°45' độ kinh Đông.3 Đặc điểm sinh vật học của cây sơn đậu -Sơn đậu thuộc loại cây bụi, mọc thẳng đứng hoặc nằm sát mặt đất.
Cao 1-2m, thân hình trụ có lông mềm. Bộ rễ có từ 2-5 rễ nhỏ, hình trụ, màu vàng nâu, dài 30-40cm (có trƣờng hợp đạt 80-100cm). Lá kép lông chim lẻ , mỗi lá 6 kép có từ 9-15 lá chét mọc đối. Lá chét dầy, thuôn hay hình bầu dục dài 3-4 cm, rộng 1-2 cm, mặt trên nhẵn và óng ánh, mặt dƣới có lông.
Cụm hoa mọc thành chùm ở nách lá, dài 12-15cm, hoa cánh bƣớm màu vàng trắng, đài hoa hình chuông bên ngoài có lông. Tràng hoa mầu vàng.Quả màu tím đen, thành chuỗi, dài 4 cm, có lông, tự mở, có chứa hạt hình trứng, đen bóng. Thời kì hoa là tháng 5-7, thời kì quả là tháng 8-12.4 Yêu cầu sinh thái của cây sơn đậu Sơn đậu trên vùng đồi núi đất, núi đá vôi, trồng ở độ cao 500-800m so với mực nƣớc biển. Thƣờng sinh trƣởng trong điều kiện đủ ánh sáng (cây ƣa sáng) trên sƣờn núi hoặc đỉnh núi.
Sơn đậu là cây ƣa sáng, chịu hạn nhƣng không chịu đƣợc ngập úng, thƣờng mọc ở núi đá vôi hay các sƣờn đồi khô cằn ở độ cao dƣới 1000m. Sinh trƣởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới 2.5 Yêu cầu dinh dưỡng của cây sơn đậu Sơn đậu là cây thuốc nhiều năm (3-4 năm mới cho thu hoạch), bộ phận thu làm thuốc là bộ rễ. Do vậy nên chọn đất có tầng đất trồng dày, đất có kết cấu, thoát nƣớc tốt, vùng trồng đủ ánh sáng. Phân bón lót cho 1 ha: Phân chuồng 10-12 tấn/ha.
Phân chuồng phải đƣợc ủ hoai mục, có thể sử dụng phân xanh bổ xung để làm tơi xốp đất. Rắc đều phân lên trên luống trƣớc khi vun đất lên luống, dùng cuốc lên luống lấp kín phân. +Phân bón vô cơ: Năm thứ nhất dùng 80kg đạm Urê/ha hòa nƣớc tƣới vào từng hốc cho giai đoạn cây trong vƣờn ƣơm. Từ năm thứ 2 trở đi thì mỗi năm bón 2 lần vòa tháng 2-4 tháng 8-9, sử dụng phân tổng hợp bón vào gốc cây, mỗi lần bón khoảng 250kg NPK 7 -Năm đầu là thời kỳ cây con trong vƣờn ƣơm nên chỉ bón phân đạm (Urê), mỗi gốc bón 5g.
Từ năm thứ 2 trở đi trên ruộng sản xuất bón phân tổng hợpNPK, bón 2 lần/năm : Lần 1 bón vào tháng 2-4 và bón sau khi đã làm sạch cỏ. Lần 2 bón vào mùa thu (khoảng tháng 9), mỗi lần bón 25g/hốc.6 Phòng trừ sâu bệnh hại Hiện nay trên cây Sơn đậu đã phát hiện ra 2 loại bệnh do vi khuẩn gây ra : Bệnh thối rễ (Root rot) và bệnh Sclerotium rolfsii.