ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng có vai trò quan trọng vì nó ảnh hưởng mạnh mẽ tới chu trình CO2 trong tự nhiên, là một trong những bể chứa các bon lớn của hành tinh, nó có khả năng giúp con người giảm nhẹ những tác động của biến đổi khí hậu, và trên thực tế cũng đã chứng minh những khu vực mất rừng đầu nguồn thường hay sảy ra lũ ống, lũ quét làm thiệt hại rất lớn về kinh tế cũng như con người. Rừng đặc dụng Copia nằm ở phía Tây thành phố Sơn La cách thị trấn Thuận Châu khoảng 20 km theo đường chim bay bao gồm địa giới hành chính của 3 xã Co Mạ, Long Hẹ, Chiềng Bôm có tính đa dạng sinh học rất cao, theo kết quả điều tra ĐDSH ghi nhận ở rừng đặc dụng Copia có các kiểu thảm thực vật phân bố trên 3 vành đai như sau. Đai nhiệt đới ≤ 700m: Đai có các kiểu thảm rừng thứ sinh tác nhân phục hồi sau nương rẫy, trảng cây bụi, tre nứa, trảng cỏ.[2] Đai á nhiệt đới độ cao từ 700 - 1.600m: Đai có các kiểu thảm rừng kín lá rộng thường xanh á nhiệt đới ẩm bị tác động ít hoặc nhiều, trảng cây bụi, tre nứa, trảng cỏ.[2] Đai ôn đới > 1.600m: Đai có các kiểu thực vật rừng kín hỗn giao cây lá rộng, lá kim thường xanh ôn đới ẩm, trảng cây bụi, tre nứa, trảng cỏ. Ngoài ra, Còn có thảm cây trồng nông nghiệp, cây công nghiệp (dài ngày và ngắn ngày), cây lâm nghiệp.[2] Theo Báo cáo điều tra đa dạng sinh học khu rừng đặc dụng của tiến Sĩ Lê Trần Chấn hệ thực vật Copia có 492 loài, 338 chi, 121 họ thuộc 5 nghành thực vật bậc cao có mạch.
Trong số đó có 20 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục sách đỏ IUCN (2011) và Nghị định 32/2006/NĐ- CP của Chính phủ.[2] 2 Do đặc điểm về vĩ độ, địa hình có những đỉnh cao trên 1200 mét nên khu rừng đặc dụng Copia thường chịu ảnh hưởng của khí hậu và tiểu khí hậu tác động đến thảm thực vật rừng và hệ thực vật rừng, theo thống kê từ cuối năm 2015 đến đầu năm 2016 trên địa bàn rừng đặc dụng Copia huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La xảy ra hiện tượng thời tiết cực đoan bất thường, mưa rét, nhiệt độ xuống dưới 00C, băng tuyết hình thành với cường độ cao, thời gian kéo dài, khối lượng lớn làm thiệt hại nặng nề đến quần thể thực vật rừng, đặc biệt làm gẫy đổ các loài cây lá rộng, nhiều cây bị bật gốc, gẫy cành ngọn, giảm độ tàn che của tán cây, làm thay đổi hoàn cảnh rừng, hệ sinh thái rừng biến động đáng kể. Sau mưa rét, lượng cành cây lá rụng tập trung nhiều, thảm thực vật dưới tán rừng bị khô héo, chết hàng loạt. Nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất cao ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên thực vật rừng trong khu rừng đặc dụng Copia xuất phát từ thực tế nói trên tôi thực hiện đề tài. “Nghiên cứu ảnh hƣởng của thời tiết cực đoan đến tài nguyên thực vật rừng thuộc khu rừng đặc dụng Copia huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La” Nhằm đánh giá được sự ảnh hưởng của thời tiết cực đoan đến thực vật rừng và đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực do thời tiết cực đoan gây ra đến thực vật rừng của khu rừng đặc dụng Copia huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu, được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển, và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát được trong khảng thời gian so sánh được. Có thể nói tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đa số là những tác động tiêu cực, bất lợi đến tất cả các mặt các lĩnh vực của đời sống xã hội như sản xuất nông lâm nghiệp, các hệ sinh thái rừng và hoạt động của con người. Thời tiết- Weather: Là tập hợp của các trạng thái của các yếu tố khí tượng xảy ra trong khí quyển ở một thời điểm, một khoảng thời gian nhất định như nắng hay mưa, nóng hay lạnh, ẩm thấp hay khô ráo. Hầu hết các hiện tượng thời tiết diễn ra trong tầng đối lưu, thuật ngữ này thường nói về hoạt động của các hiện tượng khí tượng trong các thời kì ngắn (ngày hoặc giờ), khác với thuật ngữ "khí hậu" - nói về các điều kiện không khí bình quân trong một thời gian dài.
Khi không nói cụ thể, "thời tiết" được hiểu là thời tiết trên Trái Đất. Khí hậu - Climate: Bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định. Thời tiết cực đoan - Extreme Weather: Là hiện tượng khí tượng nguy hiểm, bao gồm các kiểu thời tiết trái mùa, khắc nghiệt, không thể dự đoán, bất thường và bất ngờ; có khả năng gây thiệt hại, bất ổn xã hội nghiêm trọng hoặc gây thiệt mạng. Các dạng thời tiết cực đoan bao gồm: Vòi rồng, lốc xoáy, mưa đá, giông, bão, sóng thần, sấm sét, băng tuyết….
Trên thế giới Biến đổi khí hậu. Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC,2013) cho thấy, sự ấm lên của khí hậu toàn cầu là rõ ràng và từ những năm 1950 có nhiều thay đổi chưa từng có trong nhiều thập kỷ hoặc thiên niên kỷ trước đó. Khí quyển và đại dương đã trở nên nóng hơn, lượng tuyết và băng đã giảm đi và mực nước biển đã tăng lên. Trong ba thập niên liên tiếp vừa qua, nhiệt độ bề mặt Trái đất luôn nóng hơn so với tất cả các thập niên trước đây kể từ năm 1850.
Giai đoạn 1983-2012 dường như là 30 năm nóng nhất trong vòng 800 năm qua tại Bắc Bán cầu. Trong giai đoạn 1992-2011, một lượng băng lớn đã bị tan chảy ở Greenland và Nam Cực và dường như trong giai đoạn 2002-2011, quá trình tan băng đã xảy ra với tốc độ lớn hơn. Trong giai đoạn 1901–2010, mức nước biển đã dâng trung bình trên toàn cầu là 0,19m (0,17-0,21m) với tốc độ trung bình 1,7mm/năm (1,5- 1,9mm/năm). Tốc độ dâng của nước biển từ giữa thế kỷ 19 đã cao hơn tốc độ dâng trung bình trong 2000 năm trước.
Về nguyên nhân, IPCC cho rằng, phát thải khí nhà kính do con người là nguyên nhân chính gây ra của sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Phát thải khí nhà kính đã tăng lên kể từ thời kỳ tiền công nghiệp, chủ yếu do tăng trưởng kinh tế, tăng dân số và hiện nay đang ở mức cao hơn bao giờ hết. Nồng độ trong khí quyển của các loại khí CO2, CH4 và N2O đạt tới mức cao chưa từng có trong ít nhất 800.000 năm qua và đều có mức tăng lớn kể từ năm 1750, tương ứng là 40%, 150% và 20%. Tổng lượng khí nhà kính do con người thải ra trong giai đoạn 2000-2010 là cao nhất trong lịch sử nhân loại và đạt 49 (± 4.5) GtCO2eq /năm trong năm 2010.
5 Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những tác động tiêu cực tới các hệ thống tự nhiên, nhân tạo và con người trên toàn thế giới. Sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa đã gây ra sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt…, gây tác hại cho tài nguyên nước, tài nguyên đất, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội. Mực nước biển dâng cao đe dọa làm ngập chìm các hòn đảo, các khu vực đất thấp, làm thay đổi toàn bộ đời sống, sinh hoạt của con người. Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, lũ quét, băng tuyết… cũng gây thiệt hại lớn cho các quốc gia.
Theo ước tính của các nhà khoa học, nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng từ 1,5 đến 2,5oC so với thời kỳ tiền công nghiệp, khoảng 20% - 30% các loài sinh vật sẽ đứng bên bờ tuyệt chủng. Nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng hơn 4oC thì sẽ chỉ còn rất ít các hệ sinh thái có khả năng thích ứng được, hơn 40% hệ sinh thái sẽ chuyển đổi và rất nhiều hệ sinh thái sẽ biến mất hoặc sụp đổ trên quy mô toàn cầu. Bên cạnh đó, nếu mực nước biển dâng cao 1m, hàng triệu người có thể mất nhà cửa và hàng nghìn ha đất canh tác bị ngập lụt, gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD. Nhiều quốc đảo có độ cao dưới 3m so với mặt nước biển như Kiribati, Tuvalu, Madivale.
sẽ mất phần lớn diện tích và một vài nước khác sẽ biến mất khi nước biển dâng cao 1m. Về các nguy cơ cháy rừng.Kulatxki (Lửa rừng, Giáo trình Đại Học Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp, 2002), khi nghiên cứu về ảnh hưởng của tính chất VLC liên quản đến sự xuất hiện và lan truyền của đám cháy, đã chia VLC ra một số nhóm chính theo thứ tự như sau: 1) Thảm khô, (cành lá dụng và thảm khô); 2) Thảm mục than bùn và cây lá có dầu; 3) Cỏ cây và bụi tươi; 6 4) Cây tái sinh; 5) Cây đổ cành gãy; 6) Cành non và gốc chặt sau khai thác Theo tác giả cường độ cháy rừng phụ thuộc vào tình trạng và số lượng vật liệu cháy trong khu rừng đó, tác giả cũng cho rằng độ ẩm tới hạn của các nhóm VLC có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định nguy cơ cháy rừng và mức độ lan truyền của đam cháy Theo Mindyc.Mcallum (năm 2006) đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ mô hình hóa giữa quá trình cháy với lớp vật liêu cháy (bao gồm thành phần, độ nhiều và cấu trúc của lớp vật liệu cháy) các nhân tố thời tiết như độ ẩm, nhiệt độ, tốc độ gió, độ ẩm tương đối của vật liệu cháy theo mùa trong quá trình đề phòng đốt nương đề phòng cháy tại Arvon Park Foce Range của miền nam băng Florida Mỹ và kết quả nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng sự biến động các nguy cơ cháy các bãi thảm cỏ dưới tán rừng Thông phụ thuộc vào đám vật liệu cháy (Vật liệu cháy nhỏ của đám đã chết, những cây cỏ còn sống với những cây cọ và cây bụi) cả về không gian và thời gian. Khi đốt trước vào thời điểm thích hợp của mùa cháy, đám cháy hầu như không bị ảnh hưởng đến sự phục hồi của đám cây bụi, những loài có dễ ngầm có thể phục hồi từ hai cho đến một tuần trước khi đốt. Theo JS Gould, WL.