Đặt vấn đề Đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái. Nó có ý nghĩa rất lớn tới khả năng cung cấp nước, muối khoáng, chất dinh dưỡng cho cây. Do đó ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của thảm thực vât. Mỗi loại đất có một kiểu thảm thực vật riêng.
Ngược lại mỗi một kiểu thảm thực vật sẽ đặc trưng cho một kiểu đất xác định. Các kiểu đất này sẽ khác nhau bởi hàng loạt các chỉ tiêu như: màu sắc, tính chất lý học, hóa học, hệ vi sinh vật và động vật đất. Đặc tính cơ bản của đất được thể hiên qua độ phì, độ phì là nhân tố tổng hợp được quy định bởi nhiều yếu tố: Đá mẹ, thành phần cơ giới, cấu tượng đất, độ ẩm, độ thoáng khí, độ dày tầng đất, đặc điểm hóa tính. Do đó độ phì ảnh hưởng tới nhiều mặt của hệ sinh thái rừng nói riêng cung như thảm thực vật nói chung.
Ngược lại thảm thực vật có tác dung ngược lại với đất một cách rất tích cực, nó thúc đẩy cho đất nhanh chóng tăng độ phì nhiều cho đất (33). Trong những năm qua ở nước ta do khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, cùng với phong tục tập quán lạc hậu của một số địa phương như: Du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy và sự phát triển của ngành chăn nuôi gia súc đã làm cho diện tích rừng nước ta ngày càng bị thu hẹp, kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất đã dẫn đến huỷ hoại môi trường đất, một số công năng nào đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề sử dụng đất đai càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu. Càng ngày xã hội càng phát triển, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, đời sống của con người đòi hỏi càng cao, các nhu cầu luôn biến đổi, cùng với 2 những thay đổi đó các chính sách của nhà nước và tình hình kinh tế cũng thay đổi theo. Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta đã hết sức chú trọng tới vấn đề bảo vệ, phục hồi lại rừng nói riêng và thảm thực vật nói chung (Lê Ngọc Công, 2004)[11].
Huyện Bình Gia là một xã có diện tích rừng lớn, cũng như nhiều huyện khác trong tỉnh Lạng Sơn thời gian qua nhiều diện tích rừng đã suy giảm. Nhiều diện tích rừng vẫn đang bị khai thác quá mức làm ảnh hưởng tới môi trường. Xuất phát từ những lý do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường, sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Nguyễn Thị Huệ , em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số trạng thái thảm thực vật đến tính chất đất huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn". Muc tiêu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát - Đánh giá được ảnh hưởng của thảm thực vật đến môi trường đất huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Muc tiêu cụ thể - Xác định được đặc điểm về thành phần loài, thành phần đa dạng sống, cấu trúc tầng tán, độ che phủ các kiểu thảm thực vật nghiên cứu. - Xác định được những tính chất hóa học của đất dưới các kiểu thảm thực vật nghiên cứu, trên cơ sở đó bước đầu đánh giá được tác dụng bảo vệ đất chống xói mòn và rửa trôi các chất dinh dương của đất, nâng cao độ phì của từng kiểu thảm thực vật. - Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng phục hồi rừng, tăng độ che phủ, góp phần vào việc vừa có tác dụng bảo vệ môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng, vừa tạo ra giá trị kinh tế phục vụ cho đời sống con người.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng và phát huy được kiến thức đã học tập và nghiên cứu - Nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn - Tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng nhằm phòng, chống xói mòn, rửa trôi các chất dinh dưỡng trong đất. - Tăng cường trách nhiệm bảo vệ rừng, từ đó có hành động tích cực trong công tác bảo vệ rừng đặc biệt là rừng đầu nguồn.
- Đánh giá được hiện trạng thảm thực vật và tính chất của đất tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Những nghiên cứu về thành phần loài và đa dạng sống thực vật 2. Những nghiên cứu vê thành phần loài * Trên thế giới Theo Ramakrisnan (1981-1992) khi nghiên cứu về thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây Bắc Ấn Độ đã cho dàng chỉ số loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế cao điểm nhất ơ pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hóa.
Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài, bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài. * Ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vật cũng rất nhiều. Thái Văn Trưng (1978) thống kê thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 298 họ [31] Hoàng Chung (1980) [9] nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phái bắc Việt Nam đã công bố 233 loài thực vật thuộc 54 họ và 44 bộ. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) [16] trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê được số loài hiện có ơ thực vật Việt Nam là 10.500 loài, gần đạt số lượng 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học.
Lê Mông Chân (1994) điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia Ba Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó gặp 7 loài thuộc mô tả lần đâu tiên [8]. Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và 1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ [31]. Đặng Kim Vui (2002) [36] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất các giải pháp khoanh nuôi làm giàu rừng ở huyện Đồng Hủy tỉnh Thái Nguyên đã đưa ra kết luận: Đới với giai đoạn phục hồi từ 1-2 tuổi, thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ và họ Hòa thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất là 10 loài. Sau đó đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6loài, họ trinh nữ (Mimosaceae) và họ cà phê (Rubiaceae) môi họ có 4 loài.
Giai đoạn 3-5 tuổi có 65 laoì thuộc 34 họ; Giai đoạn 5-10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; Giai đoạn 11-15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ. Theo danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003) đã thống kê được 368 loài vi khuẩn lam (Tiền nhân-Procaryota); 2176 loài Tảo (Algae); 481 loài Rêu (Bryophyta); 1loại Quết lá thông (Psilotophyta); 53 loại Thông đất (lycopodiophyta); 2loại Cỏ tháp bút (Equisetophyta); 691 loài Dương sỷ (Polypodiophyta); 69 loài HẠt trần (Gymnospermae); và 13.000 loài thực vật Hạt kín (Anigiospermal); đưa tổng số loài thực vật của Việt Nam lên đến hơn 20. Lê Ngọc Công (2004) [11] nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch bao gồm 160 họ, 468 chi, 654 loài, chủ yếu là cây lá giộng thường xanh, trong đó có nhiều gỗ quý: Lim, Dẻ, Tra, Nghiến. 6 Thái Văn Thụy , Nguyễn Phúc Nguyên ( 2005 ) nghiên cứu về thảm thực vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã khác nhau.
Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh , lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2-5m. Năm 2010 ,Lê Ngọc Công nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch trong 4 trạng thái rừng ở Thái Nguyên đã công bố danh lục gồm 733 cây , 165 chi , 145 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Tác giả cho biết có 71 loài thực vật có tên trong sách đỏ Việt Nam(2007), IUNC(2001), và Nghị định 32/2006/ND-CP. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống Dạng sống của thực vật là một đặc tính biểu thị sự thích nghi của thực vật với điều kiện môi trường.
Dạng sống nói lên bản chất sinh thái của loài. Cho nên việc nghiên cứu thành phàn đa dạng sống là một trong nhưng nội dung quan trọng của việc nghuên cứu bất kì một hệ thựcvật nào. Khi nghiên cứu thành phần đa dạng sống với điều kiện tự nhiên của từng vùng và sự tác động của điều kiện sinh thái với từng loại thực vật. * Trên thế giới Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [11] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó.
Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm. Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm. Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản: 1. Nhóm cây có chồi trên mặt đất : Phanerophytes (Ph) 2.
Nhóm cây có chồi sát mặt đất : Chamaetophytes (Ch) 3. Nhóm cây có chồi nửa ẩn : Hemicryptophytes (He) 7 4. Nhóm cây có chồi ẩn : Cryptophytes (Cr) 5. Nhóm cây sống 1 năm : Therophytes (Th) Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB) : SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng.Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên.Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản.