Đặt vấn đề Từ ngàn đời xưa, màu sắc là phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người nói chung và các cộng đồng dân tộc thiểu số nói riêng. Người cổ đại từ hàng ngàn năm trước đã biết sử dụng nguyên liệu tự nhiên để vẽ lên đá các bức tranh mô tả lại cuộc sống thường nhật và cả mơ ước ngoài ra họ còn dùng nguyên liệu tự nhiên để vẽ lên cơ thể, vẽ mặt trong các buổi lễ, nhuộm vải cho quần áo và cao hơn nữa là nhuộm màu cho cho các món ăn làm chúng hấp dẫn hơn và mang tính biểu tượng cao. Ngày nay, với yêu cầu của cuộc sống chất nhuộm màu thực phẩm chủ yếu nước ta chưa sản xuất được phải nhập khẩu từ nước ngoài. Một số trường hợp, sử dụng chất màu không đủ tiêu chuẩn gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng.
Vì vậy trong những năm gần đây con người càng thấy được tính ưu việt của các sản phẩm tự nhiên và đã quan tâm nghiên cứu các chất nhuộm màu có nguồn gốc thực vật để sử dụng chúng nhất là trong ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm. Phẩm màu là chất phụ gia thực phẩm được sử dụng rất nhiều trong chế biến thực phẩm. Là một trong 5 chỉ tiêu đánh giá chất lượng cảm quan thực phẩm và góp phần làm tăng cảm giác ngon miệng, kích thích sự thèm ăn, mặc dù các chất màu này không phải là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng. Nhuộm màu thực phẩm bằng thực vật là tri thức và kinh nghiệm truyền thống lâu đời của các dân tộc Việt Nam, nhất là các đồng bào dân tộc thiểu số.
Một số cây cho màu rất đặc trưng như màu đỏ, tím (Cẩm đỏ, Cẩm tím), màu đỏ, cam (Tô mộc, gấc) và màu xanh (lá dứa, lá gai). Trong đó cây Cẩm là có khả năng gây trồng quy mô lớn, không gây mùi lạ cho thực phẩm, chưa thấy có hiện tượng độc và có khả năng phát triển thành 2 sản phẩm màu. Mặt khác bộ phận sử dụng là thân lá có thể nhuộm màu tiện lợi quanh năm. Do vậy cẩm được sử dụng phổ biến nhất trong các cây nhuộm màu thực phẩm hiện nay.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu nào viết các biện pháp kĩ thuật nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất cây Cẩm. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây Cẩm nhuộm màu đỏ năm 2014 tại Thái Nguyên”. Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp có hiệu quả đối với cây Cẩm đỏ tại Thái Nguyên làm cơ sở cho các nghiên cứu phát triển sản xuất chất nhuộm màu thực phẩm an toàn có nguồn gốc thực vật với quy mô công nghiệp.
Yêu cầu + Theo dõi ảnh hưởng của phân bón đến khả năng tăng trưởng chiều cao cây, khả năng ra lá, khả năng phân cành của cây Cẩm nhuộm màu đỏ. + Theo dõi ảnh hưởng của phân bón đến năng suất cây Cẩm. + Theo dõi ảnh hưởng phân bón đến khả năng tái sinh và năng suất tái sinh của cây Cẩm nhuộm màu đỏ. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học + Là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. + Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và chỉ đạo sản xuất cây nhuộm màu thực phẩm nói chung và cây Cẩm nói riêng. +Sinh viên có thể áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn + Xác định được tổ hợp phân bón cho cây Cẩm nhuộm màu đỏ.
3 + Góp phần xóa đói giảm nghèo cho bà con các dân tộc miền núi phía Bắc và phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng, toàn quốc nói chung. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về cây Cẩm 2. Phân bố của cây Cẩm Ở Việt Nam cây Cẩm có vùng phân bố tương đối rộng, phân bố rải rác ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta như: Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Hoà Bình… Hiện nay hiếm khi gặp cây Cẩm mọc hoang dại, để thuận tiện cho việc sử dụng, mỗi hộ dân ở các địa phương nói trên chỉ trồng 1 - 2 m2 ngay trong vườn nhà hoặc trên nương rẫy.
Phân loại Cẩm đỏ thuộc loài Peristrophe bivalvis (L., thuộc họ Ô rô (Acanthaceae). Đặc điểm sinh học và sinh thái Theo Nguyễn Thị Phương Thảo và cs, 2010[8] Cây Cẩm có những đặc điểm sau: 5 Giống Cẩm đỏ Hình thái Thân cây Cẩm đỏ: là loại cỏ thân thấp sống nhiều năm, cao từ 40 - 60cm, tỏa ra nhiều nhánh, thân nhẵn, thường có 4 Thân cạnh, có rãnh dọc sâu, đường kính 1 - 2cm, cành non có lông về sau nhẵn - Lá hình bầu dục, mọc đối, gốc lá thon, xanh đậm, lá có Lá nhiều lông, mặt trên không có bớt trắng. Cụm hoa chùm ở ngọn hay nách lá, chùm ngắn; bao chung của cụm hoa có lá bắc không đều, lá bắc cụm hoa thường hình trứng, có khoảng 10 hoa nằm lẫn giữa những lá bắc con hình tam giác nhọn, nhỏ hơn lá đài. Đài 5 răng đều, dính nhau Hoa ở nửa dưới, kích thước ngắn hơn lá bắc hoa.
Tràng màu tím hay hồng, phân 2 môi, môi dưới hơi khía, có 3 thuỳ, ống hẹp kéo dài. Nhị 2, bao phấn tù thò ra khỏi ống tràng. Bầu 2 ô, mỗi ô 2 noãn. Hàng năm, hoa nở vào mùa Thu, Đông Tên dân tộc Chằm thủ, Kim zòong (Nùng) Đặc điểm sinh thái của cây Cẩm đỏ Cẩm thuộc loại cây ưa ẩm và ưa bóng, nhưng không chịu được úng, cây thường mọc ở ven rừng núi đá vôi ẩm, gần bờ suối và được trồng dưới tán các cây ăn quả, bên cạnh các nguồn nước.
Cây sinh trưởng mạnh vào Xuân Hè, có hoa vào mùa Thu, Đông. Vào cuối mùa thu khi nhiệt độ xuống thấp và ít mưa cây bắt đầu bị rụng lá và vào mùa đông thì cây hầu như không còn lá (Nguyễn Thị Phương Thảo và cs, 2010)[8]. Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch Cây Cẩm sẽ sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao trên loại đất đáp ứng đủ các điều kiện sau: - Đất có hàm lượng mùn cao, tơi xốp, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, giàu dinh dưỡng. - Đất có độ ẩm cao, dễ thoát nước.
- Đất có độ che bóng (chú ý là cây Cẩm sẽ tổng hợp rất ít chất màu trong điều kiện nhiệt độ cao và chiếu sáng mạnh). Đất được cầy bừa kỹ, dọn sạch cỏ và lên luống cao 20cm, rộng 1,0 - 1,2m. Vào mùa xuân, tháng 2 - 3 chọn các cành Cẩm bánh tẻ khoẻ mạnh, cắt bỏ bớt lá để giảm bớt sự bay hơi nước, cắt phần thân thành những đoạn hom dài khoảng 15 - 20cm, mỗi hom có 2 - 3 mắt, sau đó đem đi trồng với khoảng cách hố cách hố 30 - 40cm, hàng cách hàng 30 - 40cm. Để cây sinh trưởng tốt ta nên bón lót 8 - 10 tấn phân chuồng đã ủ hoai cho 1 ha, đối với các khu vực nương rẫy, đất dốc có thể bón thêm 100 - 150 kg lân và 50 kg kali.
Sau khi bón lót phân chuồng, phân lân và phân kali, lấp một lớp đất mỏng rồi đặt từ 3 - 5 hom giống/ hố, lấp đất, chỉ để 1 - 2 mắt ló trên mặt đất, nén chặt gốc. Sau đó tưới nước và duy trì độ ẩm của đất trong vòng 7 - 10 ngày đầu để hom ra rễ và đâm chồi mới. Trong thời gian đầu, cần chú ý giữ sạch cỏ dại và thường xuyên duy trì độ ẩm. Cây Cẩm có thể trồng dưới tán cây ăn quả, trồng xen với Ngô, Đỗ tương hay các cây rau khác.
Sau khi trồng khoảng 3 - 4 tháng, có thể thu lứa 1 (vào tháng 6 - 7 hàng năm). Khi cây cao khoảng 40 - 50cm có thể cắt phần cành mang lá dài 30 - 40cm để làm nguyên liệu chiết chất màu. Nếu gặp thời tiết thuận lợi và chăm sóc tốt, thì có thể thu hái 2 - 3 lứa Cẩm/năm. Sau mỗi lứa thu hoạch cần làm cỏ, xới xáo mặt luống, bón phân và vun gốc để cây tiếp tục sinh trưởng tốt.
Để lứa cắt sau có năng suất cao, lứa thu trước nên cắt cây ở độ cao cách mặt 7 đất khoảng 10 - 15cm. Nếu chăm sóc tốt, trồng một lần cây Cẩm có thể cho thu hoạch liên tục trong 3 - 4 năm(Nguyễn Thị Phương Thảo và cs, 2010)[8].Sự đa dạng di truyền của loài Cẩm Kết quả điều tra Nguyễn Thị Phương Thảo và cs, 2010[12] cho thấy, tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai có gặp 4 giống Cẩm khác nhau (Cẩm đỏ, 2 giống Cẩm tím và Cẩm vàng). Các giống Cẩm này đều được trồng. Cây Cẩm chủ yếu được nhân giống bằng cành, hiện tại chưa phát hiện cây con từ hạt.
Chúng tôi cho rằng sự đa dạng ở mức độ dưới loài của cây Cẩm về mặt khoa học là một vấn đề rất lý thú và đáng được quan tâm nghiên cứu. Tên của 4 giống Cẩm khác nhau được các dân tộc thiểu số tại Mường Khương đặt theo màu sắc của dịch chiết, theo hoa văn trên mặt lá, theo hình dạng hay màu sắc của lá hoa: * Cẩm đỏ Cẩm đỏ gọi là “Chằm thủ” theo tiếng Nùng, Chằm là nhuộm, thủ là đũa, có nghĩa là cây nhuộm đũa. Ngoài việc nhuộm xôi cho màu đỏ tươi, người Nùng còn dùng dịch chiết từ cây này để nhuộm đũa cho đẹp và không bị mốc. Trên phần thân non hoặc lá của cây Cẩm này có rất nhiều lông, đặc biệt là lá non, trên mặt lá không có đốm trắng.
* Cẩm tím (Chằm lai) Cẩm tím gọi là “Chằm lai” theo tiếng Nùng, Lai có nghĩa là hoa. Cây Cẩm này có hoa văn, vân trắng ở mặt trên của lá. Lá hình trứng rộng, gốc lá tròn, xanh nhạt và mỏng. Xôi nhuộm bằng dịch chiết nước từ cành lá của cây này cho màu tím huế rất đẹp.
Theo kinh nghiệm của người dân địa phương thì Chằm lai có màu đậm đặc và đẹp hơn Chằm khâu. * Cẩm tím (Chằm khâu) Một giống Cẩm tím khác được gọi là “Chằm khâu” theo tiếng Nùng, Chằm là nhuộm, khâu là gạo. Giống Cẩm này có lá hình bầu dục, gốc lá tròn 8 hay thon, xanh đậm, dầy, rất giống lá ớt. Chính vì vậy mà người Tu dí gọi cây này là “Là chư dè” (là chư là ớt, dè là lá, có nghĩa là cây lá ớt).