Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Nghiên cứu các nhu cầu của cây trồng, từ đó tìm các biện pháp kỹ thuật nhằm tác động nhằm đáp ứng nhu cầu đó để tạo ra nhiều nông sản có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ cơ bản của khoa học Nông nghiệp. Một trong những nhu cầu cơ bản của cây trồng là các chất dinh dưỡng và để đáp ứng nhu cầu đó chủ yếu thông qua việc bón phân. Hiện nay việc lạm dụng phân bón vô cơ để thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cây hay sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá liều hoặc không đủ thời gian cách ly dẫn đến ảnh hưởng đến chất lượng của cây chè cũng như sức khỏe của con người.
Nhiệm vụ của việc bón phân là cung cấp cho cây phần dinh dưỡng ít nhất cũng đủ bù lượng mà cây lấy đi theo sản phẩm thu hoạch. Nhưng bón như thế nào cho hợp lý? Muốn xây dựng chế độ bón phân hợp lý cần nghiên cứu đặc tính của cây đồng thời phân tích khả năng dinh dưỡng trong đất. Chè là cây trồng có giá trị kinh tế, chính vì vậy trong những năm gần đây cây chè luôn được quan tâm và đầu tư phát triển trên mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè, tăng thu nhập cho người sản xuất. - Nguyên tắc xây dựng quy trình bón phân Để việc bón phân cho cây trồng đạt hiệu quả cao mà không gây ảnh hưởng xấu tới cây và môi trường thì chúng ta phải hiểu rõ từng loại phân và xây dựng quy trình bón phân phù hợp cho từng loại cây và đất trồng nó.
Quy trình bón phân hợp lý cho cây trồng cần được xây dựng trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau: - Cây trồng được cung cấp đầy đủ và kịp thời chất dinh dưỡng cần thiết để cho năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt. Để đảm bảo được yêu cầu này không chỉ dựa vào phân hữu cơ mà rất cần phối hợp thêm với phân khoáng để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. - Không ngừng ổn định và nâng cao độ phì của đất nhằm bảo vệ tư 5 liệu sản xuất không thể thay thế cho người trồng trọt – cơ sở quan trọng cho sản xuất bền vững. - Đem lại lợi nhuận tối đa cho người sản xuất, trên cơ sở phối hợp tốt các biện pháp kỹ thuật trồng trọt nhằm nâng cao hiệu suất phân bón để có hiệu quả kinh tế cao.
- Phù hợp với điều kiện và trình độ sản xuất hiện tại. - Chè là cây trồng mà sản phẩm của nó có giá trị hàng hóa và giá trị xuất khẩu cao, thị trường tiêu thụ ổn định, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ngày càng cao. Tình hình sản xuất chè trên thế giới Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm). Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú.
Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo. Trong đó Châu Á chiếm vị trí chủ đạo, đến Châu Đại Dương là ít nhất, địa hình trồng chè khá lớn từ 0- 2000m so với mực nước biển. Cho đến nay đã có hơn 100 nước thuộc 5 Châu trồng và xuất khẩu chè, ngành chè đã phát triển một cách vững chắc bước theo chân nền kinh tế phồn vinh của thế giới (Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong, 1991)[20]. Trong những thập kỷ gần đây, vùng sản xuất chè không ngừng mở rộng, diện tích cây chè tăng nhanh chóng, khoa học kỹ thuật chè phát triển kéo theo sản lượng chè của các nước trên thế giới ngày càng cao.
Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới và một số nước trồng chè chính được thể hiện ở bảng sau. Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới và một số nước trồng chè chính năm 2019 Diện tích Năng suất Sản lượng STT Tên Nước (ha) (tạ khô/ha) (tấn) 1 Thế giới 5.942 23,225 270,00 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2021)[33] Qua số liệu Bảng 1.1 cho thấy: Tính đến năm 2019, diện tích chè trên Thế Giới đạt 5. Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích chè cao nhất đạt 3.311 ha nhưng lại có năng suất thấp nhất 8,765 tạ chè khô/ ha. Ấn Độ là nước có diện tích chè cao thứ hai đạt 628.
Việt Nam tính đến năm 2021 diện tích chè so với một số nước trồng chè thấp nhất đạt 115.942 ha, tuy có diện tích trồng chè thấp nhưng năng suất chè khô ở việt nam lại cao nhất đạt 23,225 tạ chè khô/ha. Về sản lượng khô của Thế Giới đạt 6.443 tấn, Trung Quốc có diện tích chè lớn nên sản lượng cao nhất đạt 2. Thấp nhất là Indonexia chỉ đạt 137. Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số châu lục năm 2019 Diện tích Năng suất Sản lượng STT Tên Nước (ha) (tạ khô/ha) (tấn) 1 Thế giới 5.420 5 Châu Âu 623 6,388 395 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2021)[33] Theo FAO, trong những năm gần đây sản xuất chè trên thế giới có xu hướng tăng, tăng cả về diện tích lẫn sản lượng.
Tính đến năm 2019 diện tích chè thế giới là 5. Trong đó diện tích chè Châu Á cao nhất đạt 4.589 ha, tiếp đến là Châu Phi đạt 459.046 ha, châu Mỹ đạt 44.139 ha, châu Âu diện tích thấp nhất đạt 623 ha. 7 Năng suất Châu Mỹ tuy có diện tích trồng chè nhỏ nhưng năng suất cao nhất thế giời đạt 20,712 tạ khô/ha, thấp nhất là Châu Âu đạt 6,388 tạ khô/ha Qua bảng ta thấy sản lượng chè của các châu lục phụ thuộc vào diện tích, như diện tích của Châu Á cao thì sản lượng cũng cao nhất đạt 5.775 tấn, Châu Âu có diện tích thấp nhất sản lượng cũng thấp nhất đạt 395 tấn. Tình hình sản xuất chè của Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất chè Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, có điều kiện thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực sự được quan tâm và đầu tư sản xuất từ những năm đầu của thế kỷ 20 trở lại đây. Nâng cao chất lượng chè búp tươi và chè thương phẩm, để cải thiện chất lượng sản phẩm xuất khẩu tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế bằng cách: Đưa giống mới có chất lượng cao chiếm một tỉ lệ thích đáng trong cơ cấu nguyên liệu chế biến. Từng bước cải tạo đất theo hướng tăng độ mùn và tơi xốp. Đưa máy đốn, máy hái và các dụng cụ làm đất vào canh tác.
Quy hoạch vùng chè nguyên liệu như: Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ và Lâm Đồng. Về giống chè lấy Viện nghiên cứu chè làm nòng cốt xúc tiến việc khu vực hoá, nhân và đưa nhanh các giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào các vườn chè. Tại các đơn vị sản xuất chè, khôi phục các vườn giống chè, sử dụng các giống mới có chất lượng cao nhằm cung cấp giống cho trồng dặm, trồng mới của dân. Đầu tư tưới cho các vườn chè tập trung có điều kiện về nguồn nước để nâng cao năng suất.
Giải pháp về vốn. Với mức vốn hạn hẹp ta phải tranh thủ sự đầu tư của nước ngoài để quay vòng sản xuất có hiệu quả nhất. Về thị trường cần đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường trong nước duy trì và mở rộng các bạn hàng ở ngoài nước…Đa dạng hoá sản phẩm tổng hợp. Tăng cường đầu tư tập huấn cán bộ kĩ thuật và tập huấn khuyến nông cho người trồng chè.
8 Cần tổ chức và phân công lại sản xuất của ngành chè: Các địa phương tự chịu trách nhiệm về sản xuất nông nghiệp và chế biến, nhất là chế biến nhỏ. Các doanh nghiệp qui mô lớn sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Tổng công ty chè Việt Nam cùng các công ty xí nghiệp làm tốt công tác thị trường bao tiêu sản phẩm và cung ứng vật tư, thiết bị chuyên dùng có chất lượng cao. Chính phủ cần ban hành những chính sách khuyến khích sản xuất chè như: Chính sách đầu tư cho vay và làm mới chè và xây dựng cải tạo các nhà máy chế biến chè.
Cho phép các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài được hưởng lợi từ các chế độ như doanh nghiệp trong nước. Nhà nước đầu tư đường điện đường giao thông và các cơ sở phục vụ công cộng khác. Cho phép ngành chè được thành lập quỹ bình ổn giá để ổn định giá mua chè tươi cho nhân dân và dự phòng một lượng chè xuất khẩu hợp lý nhằm giữ giá chè xuất khẩu. Hiện nay việc quản lý chất lượng chè xuất khẩu chưa có tổ chức nào chịu trách nhiệm trước nhà nước, do vậy cần thống nhất quản lý Ngành về chất lượng sản phẩm chè xuất khẩu.
Vậy ngành chè có thể tin tưởng rằng: “Doanh thu của ngành chè tương đương 1 tỷ USD vào những năm 2020”. Đến nay cùng với sự đổi mới về quản lý, nhiều hình thức liên doanh liên kết được hình thành (với các nhà sản xuất Nhật Bản, Đài Loan,.) cơ chế quản lý được đổi mới, nhiều công nghệ tiên tiến được đầu tư dẫn đến diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng tăng lên. Cây chè đã thực sự là cây trồng mũi nhọn và là cây trồng chiến lược của vùng Trung Du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam những năm gần đây Diện Tích Năng Suất Sản lượng Năm (ha) (tạ khô/ha) (tấn) 2015 117.3 cho ta thấy: Từ năm 2015 đến năm 2017 diện tích chè tăng từ 117.188 ha và đến năm 2019 giảm còn 115.
Năng suất dao động từ 20,030 tạ khô/ha (2015) lên 23,225 tạ khô/ha (2019). Sản lượng chè dao động từ 236. Qua bảng ta thấy nếu lấy năm 2015 làm mốc thì qua 05 năm năng suất và sản lượng tăng. Ngành chè nước ta có được những thành quả trên là do chúng ta đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất.
Tình hình sản xuất chè Tuyên Quang Sản xuất chè là một trong những ngành có thế mạnh ở Trung du và Miền núi. Cây chè ít tranh chấp đất với cây lương thực, thích hợp trên đất dốc. Trồng chè có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, rửa trôi. Chè là cây trồng sử dụng có hiệu quả đất đai, khí hậu vùng đồi núi.