Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây xà lách 1.1 Nguồn gốc Xà lách (Lactuca sativa L.) tên tiếng Anh là Lettuce thuộc họ cúc (Asteraceae) có nguồn gốc ở Địa Trung Hải. Đây là một loại rau ăn lá, tùy theo giống và điều kiện trồng mà có thé khác nhau cuộn hoặc không cuộc, loại thân thảo, rễ rat phát triển và phát triển nhanh dùng làm rau ăn tươi (Trần Viết Mỹ, 2009). Xà lách là loại rau ăn sống quan trong và phố biến ở nhiều nước, đặc biệt ở vùng ôn đới, có sô lượng NST 2n = 18, được trông với diện tích lon nhất trong số các loại rau ăn song, vi thé no 1a loai rau quan trong nhất thé giới (Lê Thi Khanh, 2009). Năm 1493, Christopher Columbus đã đem hạt giống xà lách đến châu Mỹ.
Xà lách đã phát triển nhanh chóng ngay từ năm 1494 tại Bahamas, đến 1565 cây xà lách trở thành loại rau thông dụng nhất tại Haiti. Tại Hoa Kỳ, xà lách cũng theo chân các thuyền của người truyền giáo Tây Ban Nha đến khai phá vùng đất mới (Fortin, 2002). Năm 1806, có đến 16 loài xà lách được trồng tại các nhà vườn Mỹ. Từ đó trở thành loại cây hoa màu có giá trị nhất, với 85% sản lượng xà lách tại Mỹ là do vùng phía Tây cung cấp như: California, Arizona, Colorado, Washington, Oregon va Idaho (Spinach, 2006).2 Đặc điểm thực vật hoc xa lách 1.1 Rễ Xà lách có rễ cọc phát triển, làm nhiệm vụ chính là gitt cây, bám vào đất được chắc ngoài ra còn làm nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng nuôi cây.
Trên rễ cọc có rất nhiều rễ phụ giúp cây bám đất, hút nước và chất khoáng (Gombas, 2007). Bộ rễ ăn nông 10 — 15 cm, phân bố hẹp nhưng phát triển rất nhanh. Rễ xà lách ưa am, có khả năng chịu tng tốt hơn chịu hạn (Mai Thị Phương Anh, 1996).2 Thân Thân xà lách thuộc thân thảo, là nơi kết nối giữa bộ rễ và lá, vận chuyền chất khoáng do bộ rễ hút lên và chất hữu cơ do bộ lá tổng hợp nuôi cây. Thân xà lách gion, trên thân có dịch trắng sữa.
Thời gian đầu thân phát triển chậm nhưng sau cây đã đạt chiều cao nhất về sinh khối, thân véng rất nhanh và ra hoa (Gombas, 2007).3 Lá Xà lách có số lượng lá lớn, lá sắp xếp trên thân theo hình xoắn ốc, lá ngoài có màu xanh đậm, lá trong xanh nhạt đến trắng ngà. Các lá phía trong mềm có chất lượng cao. Bề mặt lá không bằng phẳng mà lồi lõm, gấp khúc do đặc tính di truyền. Lá làm nhiệm vụ chủ yếu là tổng hợp chất hữu cơ nuôi cây (Gombas, 2007).
Tùy theo giống mà lá có thể khác nhau, cuốn hoặc không cuốn, lá đơn nguyên hoặc lá chia thùy, mọc cách thành hình sao ở góc và không có lá kèm. Ở giai đoạn cây con và trong suốt quá trình sinh trưởng, cây xà lách có tốc độ ra lá và tăng kích thước lá rất nhanh khi đạt tới mức độ đặc trưng cho giống (Mai Thị Phương Anh, 1996).4 Hoa Chùm hoa chứa số lượng hoa lớn, các hoa nhỏ duy trì chặt chẽ với nhau trên một dé hoa, với 5 đài hoa, 4 nhị và 2 lá noãn. Độ tự thụ rat cao, hat phan và nhụy có độ hữu thụ cao (Gombas, 2007).5 Quả và hạt Quả xà lách thuộc loại quả bế đặc trưng. Hạt không có nội nhũ, hạt hơi dài và đẹt, có màu nâu vàng (Gombas, 2007).3 Nhu cầu sinh thái 1.1 Nhiệt độ Xà lách có nguồn gốc ôn đới, ưa nhiệt độ thấp.
Tuy nhiên trong quá trình trồng trọt, chọn lọc và thuần hóa, ngày nay cây xà lách có thé trồng được trên nhiều vùng khí hậu khác nhau như nhiệt đới, cận nhiệt đới. Cây sinh trưởng phát triển tốt ở 8 — 25°C, nhưng nhiệt độ thích hợp là 13 — 16°C. Nhiệt độ ngày và đêm rất quan trọng cho sinh trưởng va phát triển của xa lách. Nhiệt độ ngày/đêm thích hợp là 20°C/18°C.
Xà lách cuốn phát triển tốt ở nhiệt độ 15 — 20°C, chịu được nhiệt độ 8°C. Biên độ nhiệt ngay va đêm chênh lệch 2°C rất có lợi cho xà lách phát triển (Lê Thị Khanh, 2009).2 Độ 4m Cũng như các loại rau nói chung, xa lách rat cần nước dé phát triển do cây có bộ lá lớn, tốc độ thoát hơi nước cao. Đề đảm bảo nhu cầu nước cho cây sinh trưởng tốt, ẩm độ thích hợp trong khoảng 70 — 80 %. Độ ẩm không khí thích hợp là 65 — 75 %.
Tuy nhiên nếu mưa kéo dài hay đất úng nước sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cây xà lách (Lê Thị Khánh, 2009).3 Ánh sáng Đối với cây xà lách ánh sáng thích hợp là vùng ánh sáng cận nhiệt đới với cường độ ánh sáng khoảng 17.000 lux và thời gian chiếu sáng 16 giờ/ngày sẽ cuốn bắp chặt hơn (đối với xà lách cuốn). Dé xà lách ăn lá sinh trưởng bình thường và cho năng suất cao yêu cau thời gian chiếu sáng 10 — 12 giờ/ngày. Số giờ nắng trong tháng từ 180 — 250 giờ (50 — 60% tổng số giờ nắng ban ngày). Cường độ ánh sáng thích hợp 17.000 lux sẽ ảnh hưởng tốt đến quá trình tổng hợp chất hữu cơ, giúp cây tăng nhanh về sinh khối và ảnh hưởng đến sự hình thành nụ hoa (Lê Thị Khánh, 2009).4 Dinh dưỡng Xà lách có bộ rễ chùm, ăn nông, không kén đất nhưng yêu cầu đất tơi xốp, thoát nước tốt, pH 5,8 — 6,6; yêu cầu dinh dưỡng cao.
Sau khi trồng 30 — 40 ngày có thê thu hoạch được nên đòi hỏi phân đễ tiêu. Bón lót các loại phân hữu cơ chủ yếu (phân chuồng hoai mục, bánh dầu đậu phụng, đậu tương, phân cút) dé làm tăng chất lượng, phân vô cơ thích hợp dé cây phát triển nhanh, tăng năng suất trên đơn vị diện tích (Lê Thị Khanh, 2009).4 Giá trị dinh dưỡng của xà lách Theo Akoyd (1963), trong thành phần ăn được của lá xà lách có chứa nhiều vitamin (tiền vitamin A: 16,50 mg/100g, vitamin C: 10,0 mg/100 g phân tích), các loại 5 acid amin không thay thé (Thiamin 0,09 mg/100 g, Riboflavin 0,13 mg/100 g), Cacbohydrate 2,5 g, protein 2,1 g, cac chat khoang 1,2 g (Ca, P, Na, S). Theo Pham Thi Minh Tâm (2002), xa lách (Lactuca sativa var capitata L.) là một trong những loại rau ăn lá có vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người. Xà lách không những chế biến được nhiều món ăn mà còn chưa nhiều muối khoáng với những nguyên tố kiềm giúp tinh than tỉnh táo và giúp cơ thé tránh được bệnh tật.
Cứ 100 g xa lách sẽ cung cấp khoảng 95 g nước, 1,5 g protein, 2,2 g glucid, 0,5 g xenlulo, 77 mg canxi, 34 mg phospho, 0,9 ø sắt, 2 mg caroten, 0,14 g vitamin B1, 15 mg vitamin C rất cân thiệt cho con người. Theo Nguyễn Bá Huy Cường (2009), tác dụng của xà lách là giải nhiệt, lọc máu, cung cấp khoáng chất, giảm dau, trị ho, trị tiêu đường. Xà lách còn chứa nhiều muối khoáng với những yếu tố kiềm, nhờ đó giúp cơ thé lọc mau, tinh than tỉnh táo và tránh được nhiều bệnh tật. Ngoài các tác dụng trên, ăn xà lách còn hưởng được lợi ích như giảm cân, tránh được các bệnh nhiễm trùng đường tiểu.
Theo Lê Thị Khánh (2009), ở nước ta, xà lách được sử dụng đề ăn sông, còn ở các nước nó được sử dụng như rau trộn với giâm và muôi. Xà lách cũng có thê dùng đê xảo nâu nhưng quá trình nấu sẽ làm mắt nhiều vitamin, giảm giá trị dinh dưỡng.5 Giá trị kinh tế của xà lách Theo Lương Thị Lành (2012), xà lách chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cau cây lương thực, thực phẩm nói chung và các loại rau nói riêng. Cay lương thực như lúa, ngô, cao lương, khoai, sắn và một số cây trồng khác nhằm cung cấp năng lượng cho con người. Cây thực phẩm bao gồm các loại đậu, rau, gia vị nhằm bỏ sung chất dinh dưỡng các loại.
Trong các loại rau thì xà lách có điện tích trồng nhiều nhất nên chiếm một vị trí đáng ké trong cơ cấu cây rau các loại. Với khoảng thời gian sinh trưởng đến thu hoạch ngắn, xà lách thường được trồng gối vu, trồng xen giữa 2 vụ cây lương thực như ngô, khoai, sẵn và một số cây trồng khác. Nhờ vậy nó góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, tạo thêm việc làm cho hàng trăm người lao động ở khu vực nông thôn. Xà lách còn là cây ít có sâu bệnh.
Do vậy luân canh xà lách sẽ giúp gián đoạn vòng đời của sâu bệnh, giảm thiêu được sự tồn tại của sâu bệnh đối với vụ trồng chính tiếp theo sau.6 Sâu, bệnh hại chính trên cay xà lách 1.1 Sau hại trên cay xà lách Cây xà lách tương đối ít sâu, chủ yếu là sâu xám (Agrofis ipsilon) cắn cây con, sâu khoang ăn lá (Spodoptera sp.2 Bệnh hại trên cây xà lách Theo Nguyễn Mạnh Chinh và ctv (2009), bệnh gây hại cho cây xà lách chủ yếu là bệnh thối nhũn vi khuẩn (Erwinia carotovora) và thôi gốc (do nam Rhizoctonia solani). Ngoài ra, trên cây xà lách còn gặp bệnh sưng cô rễ (do tuyến trùng Meloidogyne Sp.2 Tình hình sản xuất xà lách 1.1 Tình hình sản xuất xà lách trên thế giới Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau ăn lá một số nước trên thế giới năm 2021 ung Diện tích Năng suất Sản lượng — Sản lượng so với (ha) (kg/ha) (triệu tân) thê giới (%) Toàn thế giới 30.293 1,070 0,2 (FAO, 2021) Kết quả của Bang 1.1 cho thay: Năm 2021, theo thống kê của các tổ chức lương thực thì tổng diện tích trồng rau trên thế giới là 30.409 ha với tổng sản lượng là 466,519 triệu tấn, đạt năng suất 233. Trong đó, Trung Quốc là quốc gia có diện tích trồng rau ăn lá lớn nhất thé giới (10.548 ha), sản lượng rau đạt 170,350 triệu tan chiếm 36,5% sản lượng rau ăn lá trên thé giới. An Độ xếp thứ 2 với 40,201 triệu tấn chiếm 8,6% sản lượng rau ăn lá trên thế giới.
Tiếp đến là Việt Nam (3,3%), Nigeria (1,5%) và Philippines (1,1%). Việc áp dụng khoa học kĩ thuật hiện đại, các công nghệ mới trong sản xuất cây trồng. Chú trọng trong việc chọn giống, năng suất rau ăn lá của Nhật Bản cao nhất thế giới (22. Nhật Bản là một trong những quốc gia dẫn đầu trên thế giới về sản xuất nông nghiệp.2 Tình hình sản xuất rau ăn lá tại Việt Nam Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau ăn lá tại Việt Nam Na Dién tich Nang suat San lượng KIẾP (ha) (kg/ha) (triệu tắn) 2017 842.2, diện tích sản xuất rau ăn lá ở Việt Nam tăng qua hang năm.
Giai đoạn 2017 — 2020, điện tích trồng rau ăn lá tăng 11.